Một nhà thơ bị cầm tù trong sự thật
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3 ... 14, 15, 16
 
Gởi bài mới   Trả lời chủ đề nầy    Diễn Đàn MẪU TÂM -> TIN TỨC VĂN NGHỆ - THỜI SỰ HẢI NGOẠI
Xem chủ đề trước :: Xem chủ đề kế  
Tác giả Thông điệp
Tre xanh



Ngày tham gia: 05 3 2008
Bài gởi: 10734

Bài gởiGởi bởi: Sáu 4 05, 2019 5:13 pm    Tiêu đề:

Nhạc Sĩ Lưu Hữu Phước Vỡ Mộng

XUÂN VŨ



Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước
(1921-1989)


Lưu Hữu Phước thì tôi quen lắm! Cùng tập vác gạch trong trường Nguyễn Ái Quốc. Rồi về R ở chung cơ quan. Bộ Văn Hóa của Chánh phủ ma Huỳnh Tấn Phát mà. Phát có thằng con trai du đãng ở Hà Nội, đang nằm nghỉ mát trong Hỏa Lò khi phái đoàn Mặt Trận Rải Phóng do Nguyễn Văn Hiếu cầm đầu ra thăm Hà Nội.


Không hiểu tại sao Lưu Hữu Phước được mắt thòi lòi Lê Đức Thọ chú ý bắt lên làm Bộ Trường cái Chánh Phủ này rồi sau khi chiếm được Sài Gòn, lại đá văng họ Lưu đau đớn thế!? Lưu nhạc sĩ hận đời muốn vượt biên, tuyên bõ:

- Nếu ra nước ngoài được, tôi cũng đi!


Nhưng mà Lưu nhạc sĩ bị kềm quá chặt không đi được đành chịu chết ở trong nước với mối hận đem xuống mồ.



*

Tôi tiếc Lưu Hữu Phước hơn bất cứ nghệ sĩ nào tôi đã chịu ảnh hưởng trong tuổi trẻ của tôi. Đúng ra tôi mang ơn Lưu Hữu Phước vô kể về việc đánh thức tinh thần yêu nước của tôi từ ngày tôi còn là học sinh trung học. Lưu Hữu Phước là một nhà ái quốc biểu lộ lòng yêu nước của mình và truyền nó sang hằng triệu, hằng chục triệu người Việt Nam để làm nên cuộc cách mạng lật đổ chế độ thực dân vào tháng 8 năm 1945. Lưu Hữu Phước là một thiên tài âm nhạc. Nước Pháp có Rouget de Lisle tác giả La Marseillaire sau này trở thành quốc ca Pháp. Còn Lưu Hữu Phước sáng tác những nhạc phẩm nung nấu lòng yêu nước Việt Nam vô bờ bến. Có thể nói không một nhạc sĩ Việt Nam nào sánh kịp anh. Lấy bản thân tôi để kiểm nghiệm thì thấy rõ.


Hồi còn ngồi ghế nhà trường, tôi đã thuộc rất nhiều bài hát của anh trong đó phải kể trước tiên bản Tiếng Gọi Sanh Viên đã dịch ra tiếng Pháp là Marche des Etudiants. Phải dịch là Sinh Viên Hành Khúc thì mới đúng, nhưng nhân dân vẫn chấp nhận nó là Tiếng Gọi Sinh Viên vì nó đúng là tiếng gọi, không những gọi sinh viên mà còn gọi toàn dân đứng lên đáp lời sông núi.


Hai tiếng sông núi thiêng liêng bắt đầu làm dậy lên men yêu nước trước nhất là từ bài hát này. Lúc sáng tác nó, Lưu Hữư Phước là sinh viên ở Hà Nội và là đảng viên đảng Dân Chủ (chính vì thế mà sau này Đảng Cộng Sản truy nguyên ra, không cho ông làm Bộ Trưởng Văn Hóa của Chánh phủ Phát - sẽ xin nói sau). Khi còn đi học tôi được thầy dạy Lịch Sử nước Pháp kỹ hơn Sử Ký Việt Nam, tôi bị nhiễm ít nhiều tinh thần Jeanne d'Arc, Le Petit Barbara dans les vallées de Ronceveaux, Bayard le cavalier sans peur et sans reproche của Pháp có khi còn nhiều hơn gương yêu nước của Trưng Trắc-Trưng Nhị, Trần Bình Trọng, Thần Quốc Tuấn... Mà thật vậy Lịch Sử Pháp được giảng giải nhiều giờ hơn, bài vở bắt học trò phải thuộc lòng. Còn Sử Ký ta thì giảng sơ sài, càng lên cao càng học ít. Trận Bạch Đằng, trận Chi Lăng xảy ra năm nào, không biết, nhưng Henri IX bị một tên khùng Ravaillac ám sát thì chúng tôi gạo chắc trăm phần trăm! Cho đến khi tiếng gọi vang âm "Nầy thanh niên ơi! Đứng lên đáp lời sông núi" thì hình như tâm hồn ngây thơ của tôi mới tỉnh ngộ và dần dần rõ được mình đang đi xa dần cái gốc Việt Nam.

Đồng lòng cùng đi, đi, đi mở đường khai lối

Vì non sông nước xưa truyền muôn năm chớ quên

Nào anh em Bắc Nam cùng nhau ta kết đoàn

Hồn thanh xuân như gương trong sáng

Đừng tiếc máu nóng, tài xin ráng

Thời khó thế khó, khó làm yếu ta

Dù muôn chông gai, vững lòng chi sá

Đường mới kiếp phóng mắt nhìn xa bốn phương

Tung cánh hồn thiếu niên ai đó can trường


Điệp khúc:

Thanh niên ơi, ta quyết đi đến cùng

Thanh niên ơi, ta nguyền đem hết lòng

Tiến lên đồng tiến vẻ vang nguồn sống

Chớ quên rằng ra là giống Lạc Hồng.


Giống Lạc Hồng! Những tiếng ấy đã được nhắc trong Sử Ký Việt Nam, nay được âm điệu hóa nó ra bằng nhạc như diều gặp gió bay tung trên bầu trời Việt Nam.


Chớ quên rằng ta là giống Lạc Hồng!


Sự tích của bà Âu Cơ và Lạc Long Quân càng thêm rạng rỡ và khắc sâu vào lòng người Việt Nam như những nét rướm máu huy hoàng.


Ngày nay ta đã hiểu và đã đổ máu cho nền độc lập của xứ sở, ta thấy những tiếng ấy nó xưa đi rồi chăng? Nhưng cách đây hơn nửa thế kỷ, những tiếng Lạc Hồng mà được đưa lên môi người Việt Nam bằng dấu nhạc là những chuyện phi thường. Không có ai làm nổi ngoài Lưu Hữu Phước.

Này thanh niên ơi, nhớ xưa dấu còn chưa xóa

Hùng cường trời Nam ghi trong bảng vàng bia đá

Lùa quân Chiêm nát tan, thành công Nam Tiến luôn

Bình bao phen Tống Nguyên, từng ca câu khải hoàn

Hồ Tây tranh phong oai son phấn

Lừng tiếng Sát Đát, Trần Quốc Tuấn

Mài kiếm cứu nước nhớ người núi Lam

Trừ Thanh, Quang Trung giết hàng bao đám

Nòi giống có khí phách từ xưa chớ quên

Mong thấy ngày vẻ vang ta thắp hương nguyền.

Lời ca nào hùng tráng hơn? Lịch sử dân tộc lần đầu tiên được đưa vào lòng người bằng âm nhạc. Là do bàn tay thấn của Lưu Hữu Phước.


Hình như lời ca là do một tập thể sinh viên sáng tác trong đó đứng đầu là Lưu Hữu Phước, Huỳnh Văn Tiểng và Mai Văn Bộ, ba sinh viên Nam Kỳ học ở Hà Nội.


Bài ca này có tới bốn đoạn. Nay tôi quên mất hai đoạn nhưng còn nhớ những lời tiếng Pháp. Xin chép ra luôn.


Etudiants du sol l'appel tenace

Pressant et fort retentit dans l'espace

Des côtes d'annam aux ruines d'Angkor.

A travers des monts, du Sud jusqu'au Nord

Une voix monte ravie: Servir la chère Patrio

Toujours sans reproche et san peur

Pour rendre l'avenir meilleur

Avec fermeté et courage!

Selon les espoirs de notre âge.


Repair


Te servir chère Indochine!

Avec coeur et discipline!

C'est notre but, c'est notre loi

Et rien n'ébranle notre foi.

Etudiants notre passé de Gloire

Demeure encore dans notre mémoire

De ces grands héros qui luttaient jadis

De ces beaux pays, nous sommes les fils.

Soyons fiers de nos ancêtres

Après eux nous saurons être

Unis et forts pour mieux servir

Pour bâtir un bel avenir...



Người Pháp nghe cũng phải phục sát đất mà.


Thời kỳ đó, thực dân còn là chúa tể ở xứ ta, thử hỏi ai dám đặt những lời ca cho bài hát đó? Chuyện nghĩ ra cũng khó như chuyện làm. Nhưng họ đã làm và đã thành công rực rỡ. Từ Bắc chí Nam bài Sinh Viên Hành Khúc như một luồng bão lớn trong lòng người và lay động sông núi Việt Nam.


Những bài hát yêu nước của Lưu Hữu Phước nở rộ như hoa đã là những trận mưa rào làm sống lại mãnh liệt tâm hồn cằn cỗi Việt Nam gần một thế kỷ nô lệ bị vùi dập nhưng không chết.


Lưu Hữu Phước là một thiên thần tay đầy phép lạ. Vẫy một cái mây bay gió cuốn. Vẫy thêm một cái mưa tuôn rào rạt.


Lưu Hữu Phước đứng giữa đời như một trụ đồng treo ngọn hải đăng tỏa sáng xuyên thủng những lớp sương mù! Phải chăng, để chặn đứng ngọn triều yêu nước do nhóm sinh viên tiền tiến gây nên mà thực dân Pháp đã dựng lên phong Thanh Niên Ducoroy để đánh lạc hướng? Nhưng cội cây Lưu Hữu Phước đã nở hoa kết trái không ngừng.


Hằng loạt bài hát ra đời tiếp theo >Tiếng Gọi Sinh Viên

Chính những bài hát đó đã làm cái không khí cho người Việt Nam thở mà sau 1945, Xuân Diệu mới có câu thơ trong tập thơ tráng khúc: "Ngực lép ngàn năm thở lại rồi!"


Bạch Đằng Giang, Ải Chi Lăng, Hồn Tử Sĩ, Kinh Cầu Nguyện, Đoàn Quân Ma, Nam Tiến, Ta Cùng Đi, Bóng Người Núi Lam, Hội Nghị Diên Hồng, Hờn Sông Gianh, v.v... có đến cả trăm bài.

Đây Bạch Đằng Giang, sông hùng dũng

Của nòi giống Tiên Rồng, giống Lạc Hồng,

giống anh hùng Nam Bắc Trung

Trên trời xanh muôn sắc đua chen bóng Ô

Dưới đáy dòng nước ánh sáng vẩn vơ nhấp nhô

Kìa quân Ngô Tiên Chủ đánh thắng quân Tàu man

Kìa quân Trần Quốc Tuấn

đánh thắng quân Thoát Hoan

Nay đã bao lâu còn đâu nữa rồi

Thời giờ qua đã bôi mờ trong đêm tối

Người nay có hay đã vì chúng ta

Người hùng anh xưa giữ nước non nhà.


Điệp khúc:

Dòng nước trắng xóa dưới trời quang đãng

Từ xưa nêu cao tấm gương anh hùng

Dù có sấm sét bão bùng mưa nắng

Đằng Giang vẫn sáng để cho nòi giống soi chung.


Ta hát vang vỡ tung lồng ngực. Ta sống lại ngày xưa oai hùng của tổ tiên. Hồ Chí Minh đi thăm Đền Kiếp Bạc ở Hải Dương đã dám ngạo mạn tự sánh mình với Hưng Đạo Đại Vương, gọi người bằng Bác một cách xấc láo:


Bác đưa một nước qua nô lệ

Tôi dắt năm châu đến đại đồng!


Rồi bọn Phạm Văn Đồng, Lê Duẩn dắt Chu ân Lai đi cúng miếu Liễu Thăng ở Chi Lăng. Nhục nhã thay cho lớp con cháu phản thùng tổ tiên. Một Chi Lăng được tái sanh bằng những dấu nhạc của Lưu Hữu Phước:

Chi Lăng! Chi Lăng! (một hồi trống)

Tiếng ai hò reo vang trời (một hồi chiêng)

Chi Lăng! Chi Lăng! Bóng ai tranh hùng muôn đời

(trống chiêng nổi lên cùng một lúc)

Trời âm u, gió tung rú lên rít lên ào ào

Rừng thông rên siết dưới luồng bão.

Lời ai phải chăng thần thánh.

Hồn ai phải chăng hùng anh.

Vì nước thét quân đột xông.

Làm cho rõ giông Tiên Rồng!

Hồi nhớ tới vó câu tập tễnh lướt qua làn khói,

giáp chiến!

Hồi nhớ tới bóng muôn cờ xí phất tung hùng vĩ,

cố tiến

Vì nước tuốt gươm xông pha

Lòng trung cứu dân lầm than

Đồng hát khúc anh hùng ca

Bền gan kết tâm cường tráng

Khuất Nam Bình Bắc oai hùng luôn tiến

Trống chiêng vang rền (ba hồi chiêng).

Tôi nghe hai bài hát này lần đầu tiên tại rạp Nam Xuân (Bến Tre) hay ở đâu tôi cũng quên rồi - đã hơn năm mươi năm, khó lòng mà nhớ được, nhưng hình ảnh các anh chị mặc đồng phục mặt tươi như hoa, đồng ca đã làm rúng động con người nghe chứ không phải chỉ những xúc cảm như những buổi xem hát bình thường.


Công lớn đó của ai? Cộng Sản cố tình quên đi hoặc phủ nhận. Bản tính của chúng là thế. Người đời thường trách vua Gia Long khi lên ngôi chém tướng Nguyễn Văn Thành, thường chê Việt Câu Tiễn khi lấy lại được giang sơn thì trung thần không ở được. Văn Chủng bị giết, Phạm Lãi biết thân đã bỏ đi. Nhưng người ta không biết Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản còn phản phúc gấp trăm Gia Long và Việt Câu Tiễn.


Hai bản nhạc Bạch Đằng Giang và Ải Chi Lăng đã đánh dấu một giai đoạn huy hoàng của tinh thần yêu nước Việt Nam và đã là con chim báo bão sau này - với hoạt cảnh Hội Nghị Diên Hồng:

Thần dân nghe chăng? Sơn hà nguy biến? (hai lần)

Hận thù đằng đằng biên thùy rung chuyển

Loa vang vang

Chiếu toan truyền bốn phương!

Diên Hồng tâu lên cùng Minh Đế báo ân

(Một đoàn phụ lão chống gậy. Sân khấu âm u nặng nề. Mình Đế đứng trên mặt thành, phán hỏiSmile


- Trước nhục nước nên Hòa hay nên Chiến?

(Toàn đoàn đứng cả lên, đápSmile


- Quyết chiến! Quyết chiến luôn!

Rõ chí dân hùng anh!

(Sân khấu bừng sáng. Mặt trời mọc)

- Kìa vừng hồng tràn lan trên đỉnh núi

Xa xa trông áng mây đầu non đoài

Trông quân Nguyên tàn phá non sông nhà

Đạp thành trì lang sói dày lăng miếu

(Minh Đế lại phán hỏiSmile

- Thế nước yếu biết lấy gì lo chiến chinh?

(Toàn đoàn đápSmile

- Hi sinh!

Thề liều thân cho sông núi muôn năm lừng uy.


Cảm ơn Lưu Hữu Phước. Cảm ơn các anh chị đã làm sống lại Diên Hồng năm trăm năm cũ. Đã làm sống lại non sông nước Việt bằng một tiếng đáp của toàn dân:

- Hi sinh!

Cảm ơn và cảm ơn không ngừng. Toàn dân cùng lên đường, miệng hát vang 1945

Thượng Lộ Tiểu Khúc:


Thanh niên tiến lên, nhìn xem trời mây khô héo

Kìa biên thùy xôn xao quân tở mở reo

Dân chúng đang kêu than

Thù quân Tây ác tàn

Ta (là) đi giúp nước

Lo chi nước non suy vong

Lòng muôn dân vững bền

Cùng (là) cùng tiến tới

Ca (là) ca vang lên

Ta đi chen vai vai chen vai hi sinh.


Trẻ già trai gái cùng hát, hát như nói tiếng lòng của mình. Nét nhạc dễ dàng như một bài Kiêm Tiền Bình Bán của nhạc cổ. Thời đó ở khắp nông thôn chiều chiều nhân dân kéo ra đường tập đi ăn rập vừa đi vừa hát, bụi đường bốc lên, thật không có cảnh nào hùng vĩ bằng. Tiếp theo là bài:

LÊN ĐÀNG


I

Nào anh em ta cùng nhau xông pha lên đàng kiếm

nguồn tươi sáng

Ta nguyền đồng lòng điểm tô non sông

Từ nay ra sức anh tài

Đoàn ta chen vai nề chi chông gai lên đàng

Ta người Việt nam Việt Nam

Nhìn non sông huy hoàng, đoàn ta bước lên đàng

Cùng hiên ngang hát vang.


II

Nhìn nước non ta trời mây bao la lên đàng, kiếm

nguồn tươi sáng

Mau nhìn hoàn cầu khắp trong năm châu mà ta tung

chí anh hào

Đoàn ta đi mau lòng trai không nao lên đàng

Ta người Việt Nam, Việt Nam...


III

Kìa gương hiếu trung truyền lưu muôn năm lên đàng

Danh lừng Bạch Đằng tiếng vang Chi Lăng

Đồng tâm noi dấu anh hùng...

Ta người Việt nam, Việt Nam...

Bọn Cộng Sản là loại người vô văn hóa. Chúng phủ nhận sức mạnh của văn hóa, nhưng chính chúng nhờ cái sức mạnh của văn hóa mà ăn cướp thành công. Thử hỏi khi chúng mạo nhận cách mạng chiếm được Hà Nội, Sài Gòn, Huế, chúng có trong tay bao nhiêu khẩu súng. Chính những bài hát bài thơ hò vè tậu ra vũ khí cho chúng đấy chứ. Có phải quả bom ba càng của cảm tử quân Hà Nội nổ là do bài Tiến Quân Ca và cây tầm vông chặn đứng xe tăng là do bài Nam Bộ Kháng Chiến? Ngày nay chúng lên ngôi, chúng phủ nhận công lao đóng góp của nghệ sĩ, trong đó công lao của Lưu Hữu Phước phải được ghi ở đầu sổ chiến công. Lưu Hữu Phước là thần tượng của thần tượng trong âm nhạc Việt Nam, với những trái tim xanh ngời lòng yêu nước nở đầu tiên trong vườn hoa âm thanh yêu nước Việt Nam.

TA CÙNG ĐI (*)

Ta cùng đi, ta cùng đi

Ta không bao giờ ngã lòng.

Tay cầm tay, ta cùng bước lên đường đời

Càng đi tới tim càng thắm nồng

Hồn nước muôn năm cùng tòa non sông

Vẫn tươi vẫn sáng Rồng Nam vẫn bay

Con cháu Lạc Hồng noi tấm gương trong

Khi xưa di truyền ngàn kiếp không phai.

Ta cùng đi, ta cùng đi.

Ta cùng nhau tiên tới

Đi theo bóng cờ tốt tươi

Ta cùng tiến sánh vai cùng nắm tay nhau đồng xông pha

Dù chông gai chi sá

Ta quyết tâm, ta quyết tâm thân này xin hiến

Tuôn gai gốc ta đoạt thành

Vì ta là cháu còn Rồng Tiên hùng anh.


----------------------------------

(*) Bài hát này tôi nghe nhạc sĩ Lữ Sinh hát ở buổi Lửa Trại do sinh viên trường cán bộ huấn luyện Thanh Niên Cứu Quốc tỉnh Bến Tre tổ chức năm 1946 tại chợ Thạnh Phú. Trong buổi liên hoan này có giáo sư Hoàng Xuân Nhị vừa về nước (lấy tên là Nguyễn Đạt Hồng) tham dự. Còn tất cả các bản nhạc khác của Lưu Hữu Phước tôi đều dạy cho bộ đội và thiếu nhi trong những năm kháng chiến chống Pháp.


NAM TIẾN


Nước non xa ngàn dặm

Chúng ta đi ngàn dặm

Cùng nhau tiến, hướng về Nam

Sông núi vấn vương dưới làn khói lam

Ta liều thân càng đi càng xa

Bờ cõi Nam Quốc mở thêm thiên lý Quê Nhà Rồng

Trời nguy nga vượt khó, ta liều thân càng đi càng xa

Cố sao vẻ vang cho nòi Hồng Lạc

Bầu trời Việt mênh mông.

Lòng người Việt anh dũng.

Đất dài sông lớn khí hùng thiêng

Miền xa núi rừng gọi chúng ta

Miền xa gió Nồm giục chúng ta

Qua rừng qua núi qua đèo qua suối

Tiến lên hướng về Nam xông pha

Nguyền tràn tới rừng núi xa

Dưới trời anh bao la!


KHẢI HOÀN CA


Việt Nam mến yêu ngàn ánh vinh quang

Rạng chiếu sơn hà ngàn thu

Hình ảnh huy hoàng, hình ảnh vô biên

Chúng ta thắp hương nguyền

Ai xây tòa Sông Núi, ai gây sức Giống Nòi

Ai đem tài cao giúp lương dân

Ta xin liều thân sống, ta xin hiến tất lòng

Ta thề vì non sông báo ân

Nhìn ánh sáng, tim thắm tươi

Ta hát vang Khải Hoàn ca oai dũng

Nghìn tiếng sấm đang rền nổ trên trời thẳm

Ấy Rồng Nam reo mừng

Cờ phấp phới vương khí thiêng

Trong ánh mây

Bay vầng cùng khói hương say.

*

Tôi luôn luôn kính phục Lưu Hữu Phước như một thiên tài. Nhưng cũng cần nói thêm những ý nghĩ của tôi đối với anh. Anh hỏng cuộc đời vì chủ nghĩa Cộng Sản.


Theo tôi biết thì khoảng năm 1942 anh đang học ở Hà Nội và được Dương Đức Hiền kết nạp vào đảng Dân Chủ Việt Nam. Cùng vào đảng Dân Chủ với anh có Huỳnh Văn Tiểng, Mai Văn Bộ, Đặng Ngọc Tốt là những sinh viên người Nam Kỳ. Họ trở thành một nhóm thanh niên tiến bộ yêu nước của đảng Dân Chủ.


Khi kháng chiến bùng nổ thì anh ở Hà Nội và đi theo kháng chiến lên Việt Bắc. Không rõ trong trường hợp nào anh vô đảng Cộng Sản. Và cũng không hiểu tại sao Cộng Sản lại kết nạp anh trong lúc chúng biết anh là đảng viên đảng Dân Chủ? Có lẽ vì tranh giành ảnh hưởng. Đảng Dân Chủ trong cuộc kháng chiến chống Pháp có ảnh hường rất lớn. Trong Nam Bộ đảng Dân Chủ có tổ chức từ quận tỉnh đến xứ. Kỳ ủy đảng Dân Chủ Việt Nam cũng có cơ quan đóng và làm việc như Trung Ương Cục Miền Nam mà bí thư kỳ ủy là ông Nguyễn Việt Nam. Sinh viên và trí thức ở thành ra gia nhập rất đông. Khi tập kết ra Bắc, tôi không biết đảng Dân Chủ biến dạng đi đâu mất. Và nghe nói Lưu Hữu Phước đã bị nhuộm đỏ.


Bài Lãnh Tụ Ca dùng để chào cờ tôn vinh Hồ Chí Minh là của Lưu Hữu Phước sáng tác đâu khoảng năm 1946. Lời ca như sau:


Ánh hồng soi sáng chân trời Á Châu

Toàn Việt Nam sao vàng đỏ máu

Hồ Chí Minh xuất hiện trong ánh sao

Xuất hiện để cứu dân khổ đau

Hồ Chí Minh muôn năm

Dắt dẫn dân Việt Nam xây nền hạnh phúc bền lâu.


(Khi đó Đỗ Nhuận cũng có làm một bài ca lãnh tụ nhưng bị chê, không dùng). Cũng trong kháng chiến, Lưu Hữu Phước có sáng tác một bài ca ngợi Staline như sau:


Staline, ánh sáng tươi đẹp từ trời Liên Xô

Theo Liên Xô, Châu Á vươn lên bên Mao Trạch Đông

Người người quyết giữ nền Hòa Bình

Cùng vang lên chiến đấu, phá tan mọi âm mưu

Thế giới vang ca ngợi Staline

Bốn phương trời nở hoa là nhờ Staline

(Nước non Việt nở hoa là nhờ Staline! - đoạn II)



Lưu Hữu Phước bị nhuộm đỏ nên tự mình quên hồn dân tộc, lao theo Sao vàng đỏ máu quên tổ tiên:

Trời mây u ám, gió cuốn tả tơi hoa cỏ

Thời xưa lưu dấu âm vang nỉ non trong gió

Nhà đây nước đấy gánh vác hai vai vẹn toàn

Tưởng nhớ tới bao khi ai kia cỡi sóng Bạch Đằng hùng dũng

Tưởng nhớ tới bao khi ai kia xua quân giặc Chàm miền Trung

Chồi dậy cả thảy quyết chí chiến đấu thi gan nam nhi cùng ai

Bừng mở mắt sáng hãy ngó thế giới xem gương Duy Tân người ngoài

Rồng Nam nổi lên trợ Giống Nòi

Người Nam anh dũng quyết chiến

Chớ để tấm gương kẻ xưa chớ để thiệt thòi

Người nay có biết hỗ cùng đèn lửa

Nào ai nghe tới những tiếng nước non đâu nữa

Người nay đân tá, có khóc những khi trời chiều.


Những bài hát này tôi nằm lòng thuở thiếu thời, nay đã hơn nửa thế kỷ vẫn chưa quên. Tấm lòng của người nhạc sĩ yêu nước vẫn thắm tươi muôn thuở, nhưng Cộng Sản không hề nhắc đến để tuyên dương một tiếng vì nó có cái tên là Kinh Cầu Nguyện.

Đêm khuya âm u ai khóc than trong gió đàn

Hay quân Trưng Nữ Vương...

Hồn ai đang thổn thức trên không

Hồn quân Nam đang khóc non sông

Quyết chí chiến đấu đem tấm thân nhuộm máu đào nơi gươm dáoo

Dù nát không nao.

Hồn nước đang thét gào, gió vang tiếng nguyền cùng gươm đao...


Lời ca bi tráng biết bao nhiêu. Nhưng khi lao theo sao vàng đỏ máu thì Trưng Vương và Hưng Đạo cũng không còn trong Lưu Hữu Phước. Hồn nước đã hóa thành hồn ma và nhạc sĩ thiên tài trở thành nhạc sĩ ma. Ta hãy đem lời ca của bất cứ bài hát nào của anh sáng tác trước 45 so sánh với những bài chống Mỹ cứu nước ta sẽ thấy Lưu Hữu Phước không còn là nghệ sĩ của nàng Ly Tao mà là một cán bộ chính trị đang hô khẩu hiệu.


Giải phóng Miền Nam, chúng ta thề quyết tiến bước

Diệt đế quốc Mỹ phá tan bè lũ bán nước ..v.v...

Xuống đường, xuống đường! Đập tan mọi xích xiềng

... v.v...



So sánh với Tiếng Chim Gọi Đàn của cùng một tác giả:

Tiếng chim gọi đàn trong sương sớm

Vang trong trời xa như giục lòng trong gió sương

Ngang mây thiết tha lời ca còn dư vang

Trông chim bay dần xa nhưng gọi đàn như nhắn sang...

Đây bài Đông Nam Á Châu làm theo chánh sách Cộng Sản:


Màn trời vén, ánh nắng mới chiếu trùm muôn cõi

Á Châu ngục tù

Đây Việt Nam, đây Ấn Độ,

đây Diến Điện, đây Trung Hoa

Thế giới chờ ta vùng lên!



Lời ca hô hào suông rỗng tuếch. Chính Việt Cộng ngày nay cũng xếp xó những cái khẩu hiệu được âm nhạc hóa này. Mọi xích xiềng của đế quốc Cộng Sản đã đập tan. Vâng! Để Cộng Sản đem những xích xiềng mới thay vào.


Đông Nam Á Châu ngục tù, nay Việt Nam Cộng Sản là nhà tù lớn nhất và dân Việt Nam nghèo đói nhất Đông Nam Á Châu. Mã Lai, Phi-líp-pin dân mỗi đầu người thu hoạch trên hai chục ngàn đô một năm. Thấp nhất là Nam Dương cũng được một ngàn đô. Dân Việt Nam: Hai trăm! Đó là kết quả của sao vàng đỏ máu mang lại, sau khi phá tan bè lũ bán nước và diệt đế quốc Mỹ.


Ngày xưa Việt Nam Cộng Hòa đứng trên các nước Thái Lan, Mã Lai, Trung Cộng, nay phải quì mọp đi xin kỹ thuật của các nước này để xuất cảng sang nước họ: Kỹ thuật buôn lậu và tham ô.


Chế Lan Viên đã nói trước khi qua đời:


- Trong mười năm nay chúng ta có làm được gì đâu ngoài việc xuất cảng sang các nước láng giềng: nghèo đói!



*

Một buổi chiều Hà Nội, anh đang đứng thơ thẩn trước sân thì một chiếc xe Bobéda sà tới. Một người to béo phục phịch bước xuống xe đi vào nói nhỏ dăm ba câu với anh rồi hai người cùng lên xe đi đến đường Quan Thánh. Trên đường đi, Lưu Hữu Phước mới hay cớ sự.


Lưu Hữu Phước được com-măng làm một bài hát.

Đến nơi, vô villa, gặp me xừ Sáu Lừa. Hắn mời anh ngồi và nói:

- Trung Ương cần một bài hát cho Mặt Trận Giải Phóng.

- Dạ.

- Đồng chí có thể làm nhanh được không?

- Dạ để coi nội dung thế nào.

- Nội dung là đánh Mỹ, diệt Ngụy giải phóng Miền Nam.

- Dạ được ạ!


Lưu Hữu Phước về nhà mở đàn piano ra dạo mấy tua và viết ngay trong đêm bài Giải Phóng Miền Nam. Chiều hôm sau ông to béo lại đem xe tới chở anh lên dinh Sáu Búa. Nhưng bữa nay Lưu nhạc sĩ và ông to béo kia được đãi một bữa gà xé phay cơm chiều.


Cơm xong... Lưu Hữu Phước hát cho Sáu Búa nghe. Sáu Búa bảo:

Tốt lắm, nhưng tôi còn phải thông qua Bộ Chính Trị.

- Vâng ạ.


Mấy hôm sau trên đài Phát Thanh Hà Nội, nghe ồm ồm bài Giải Phóng Miền Nam của nhạc sĩ Huỳnh Minh Siêng từ Miền Nam gởi ra.


Thế giới, nhân loại ngây thơ tưởng thiệt. Dân Hà Nội còn tưởng thiệt nữa là ai!


Huỳnh Minh Siêng là ai, thiên hạ thần dân ngơ ngác hỏi. Huỳnh Minh Siêng là ai? Có trời mới biết? Thế giới đổ xô tới hoan hô Mặt Trận Giải Phóng. Lão già Russel bên Anh cũng chõ mõm sang sủa gâu gâu phụ họa. Thế là Mặt Trận Giải Phóng ra đời.


Lưu Hữu Phước ăn bữa cơm gà xé phay nuốt vừa qua khỏi cổ thì lại được gọi đi B vô trường Nguyễn Ái Quốc ở Ô Cầu Giấy tập mang gạch leo núi như những B viên khác. Nhưng ai cũng biết Lưu nhạc sĩ vô Nam làm Bộ Trưởng Bộ Văn Hóa của Nguyễn Hữu Thọ.


Lưu Hữu Phước tập mang gạch qua loa cùng với Diệp Minh Châu họa sĩ người Bến Tre. Rồi hai vị này biến mất khỏi trường. Diệp Minh Châu đau bao tử không đi được. Còn Lưu Hữu Phước thì biến luôn không thấy trở lại trường. Ba tháng sau khi đám B viên lội Trường Sơn vô tới R thì thấy Lưu nhạc sĩ đã ở trong Rờ, với chức trưởng tiểu ban Văn Nghệ R.


Lúc bấy giờ có chàng Thủy Thủ ở Sài Gòn ra nhập bọn ở đây (rồi sau này tự sát bằng AK). Cùng ra với anh chàng này còn có Lữ Phương, Thanh Nghị, Phan Lạc Tuyên.


Lúc đó Chánh Phủ Huỳnh Tấn Phát chưa diễn trò nên các vị này còn tạm thời núp trong bụi rậm lo nuôi gà... mái để lấy trứng vàng.


Khi Nguyễn Hữu Thọ bị đá văng từ chức Chủ Tịch Mặt Trận lên chức Hội Đồng Cố Vấn với họ Trịnh, thì các vị Phương, Nghị được xách óc lên cho ngồi ghế Thứ Trưởng Bộ Văn Hóa của cái chánh phủ "hết" thời của Huỳnh Tấn Phát.


Còn Lưu nhạc sĩ thì làm Bộ Trưởng Bộ Văn Hóa, bỏ cái tên Huỳnh Minh Siêng cũ, để chường mặt ra với tên Lưu Hữu Phước đỏ lòm.


Lúc bấy giờ họ Lưu cũng không có việc gì làm, nhưng không nuôi gà mái như Lữ Phương và Thanh Nghị - Ông làm con rối trong ban Tình Báo R, nghĩa là viết thư gởi cho các ông bà trí (bị ru) ngủ của Sài Gòn, kêu gọi ủng hộ Mặt Trận hoặc ra bưng.


Họ Lưu có cô em gái tên là Lưu Thị Dung ở đường Đoàn Văn Bửu. Cô này chuyên làm liên lạc trao thư. Về sau khi ông anh bị đá văng khỏi ghế Bộ Trưởng ma, cô ta mới đau cái mòng gà mái suýt tác quái gà cồ.


Sự nghiệp của Lưu Hữu Phước chấm dứt ở cái chức vụ ma này. Đây là một cuốn tiểu thuyết dài ngàn trang, nhưng tôi chỉ tóm tắt trong dăm bảy trang có ăn thua chi!


Lưu Hữu Phước gốc đảng viên đảng Dân Chủ được đảng chiếu cố xài xể một thời gian rồi thôi, đâu vào đấy. Ghế ba chân ngồi tạm bằng ấy năm cũng đã vinh quang chán rồi. Chẳng bằng ngồi dưới đít thằng nhà thơ xỏ lá à?



*

Một buổi sáng năm nào đấy, tôi được một cú phôn cho hay Lưu Hữu Phước đã qua đời. Tôi bàng hoàng tê tái cả tâm can. Thôi thế là hết Bạch Đằng, Chi Lăng, hết Hồn Tử Sĩ, hết Kinh Cầu Nguyện, chỉ còn lại có Hờn Sông Gianh.

Trên sông chơi vơi gió đưa hiu hắt tự phương xa vời

Lan theo cơn gió bấp bênh máu của ai pha hồng dòng sông

Lao theo cơn gió, tiếng của ai thầm khóc trên lưng sóng

Thôi nhắc nhở chi Nam Bắc khi bạo tàn tàn sát sanh linh

Ôi Sông Gianh lòng mi đau đớn dòng mi căm hờn

Chưa xóa hết những cơn tương tàn

Chưa thấy ngày vẻ vang!

Bây giờ anh đã xa chơi suối vàng nhưng mối hận Sông Gianh chưa tan.



Anh có biết đâu anh mất cái ghế kia chính vì tên Sáu Búa đã biết anh từng là đảng viên đảng Dân Chủ. Hơn nữa hắn đã từng cụp với mụ Bình ở Paris nên hắn cho mụ cái ghế đó mà không cho anh. Mười cái ghế đó chồng lên hãy còn là thấp so với tài năng của anh. Nhưng trong chế độ Cộng Sản tài năng cân không nặng bằng cái.... của và của...


Đau đớn thay cho nhạc sĩ! Khởi đầu bằng Ta cùng đi và vầng hồng tràn lan trên đỉnh núi mà kết thúc thì với đêm âm u ai khóc than trong gió đàn. Đây là một kinh nghiệm cho ta thấy địa vị của nghệ sĩ ở trong lòng khán giả chớ không ở chức tước hành chánh. Người dân Pháp ngày nay nhớ Lamartine tác giả Graziella và Méditations Poétiques, A Eloire chớ không ai nhớ Lamartine là Thủ Tướng nước Pháp.


Xuân Vũ
Văn Nghệ Sĩ Miền Bắc Như Tôi Biết, Tập III
Nxb Xuân Thu, 1998



Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gởi tin nhắn Gởi email
Tre xanh



Ngày tham gia: 05 3 2008
Bài gởi: 10734

Bài gởiGởi bởi: CN Tháng 5 12, 2019 5:26 pm    Tiêu đề:

MỘT NHÀ THƠ BỊ CẦM TÙ TRONG SỰ THẬT : TRẦN VÀNG SAO

Trần Mạnh Hảo



Lúc 14 h 30’ chiều 9-5-2018, nhà thơ Trần Vàng Sao ( Nguyễn Đính sinh năm Tân Tỵ 1941) tác giả bài thơ nổi tiếng : “Tau chửi” và “Bài thơ của một người yêu nước mình” đã vĩnh biệt chúng ta, hưởng thọ 77 tuổi.

Thỉnh thoảng ra Huế, tôi lại ghé ngôi nhà ở Vĩ Dạ thăm Trần Vàng Sao. Anh có gương mặt cổ quái, già nua như người của thế kỷ thứ 17, 18 còn sót lại. Thông qua cuốn sách anh viết : “Tôi bị bắt” (nhớ lại những năm tháng tôi bị bắt rồi thả ra sống như tù) của Trần Vàng Sao in trên mạng, tôi tìm thấy ngôi nhà tù vĩ đại trùm lên cả thế hệ chúng tôi. Đó là những tù nhân được thả rông đã bị cầm tù tư tưởng, thậm chí tâm hồn bị nhốt trong tù mà lại cảm thấy tự do.

Trần Vàng Sao – Nguyễn Đính sinh năm 1941, lên sáu tuổi cha anh tham gia Việt Minh chống Pháp tại Huế bị Pháp bắn chết năm 1947. Mẹ anh chỉ có mình anh, ở vậy nuôi anh ăn học. Nguyễn Đính đương nhiên là con liệt sĩ. Anh được nền giáo dục nhân bản của Việt Nam Cộng Hòa nuôi dưỡng tinh thần để có thể trở thành con người chân chính.

Oái ăm thay, anh Đính lại tham gia phong trào thanh niên sinh viên đấu tranh theo Việt Cộng. Năm 1965 anh Đính lên rừng để làm cuộc cách mạng bằng bắn giết mà giải phóng miền Nam cùng lứa với Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngô Kha, Trần Quang Long, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân…

Sau 5 năm sống trong sốt rét, đói khát, bệnh tật tại chiến khu rừng Thừa Thiên Huế làm công tác viết báo viết văn phục vụ đảng, anh Đính được ra “Miền Bắc thiên đường của các con tôi” ( thơ Tố Hữu) chữa bệnh và an dưỡng.

Trên đường ra miền Bắc lòng anh vui vô cùng, liên tục gọi thầm lời thiêng liêng : miền Bắc ơi, lý tưởng của tôi ơi, tôi sắp đến bên Người…Và anh Đính đã cảm động ứa nước mắt khi bước chân anh đã đến Quảng Bình…

Khi ra đến Hà Nội, anh khóc òa vì đã tới thủ đô của thiên đường, điều mà hàng nghìn hàng vạn đồng đội đồng chí của anh đã hi sinh ở miền Nam chỉ được đến bằng ước mơ, bằng tưởng tượng và khát vọng…Anh muốn hát to lên mà gọi ba ơi, má ơi, đảng ta ơi, con đã tới được nơi con hàng mơ ước…

Nhưng thực tại của miền Bắc xã hội chủ nghĩa năm 1970 rất nghèo đói, rất phi đạo đức, rất bất công, rất bê bối và tồi tệ…đã giết chết dần miền Bắc thiên đường trong giấc mộng của anh. Ra đường, hở tí là anh nghe thanh niên đàn ông đàn bà chửi nhau, toàn bằng tiếng Đan Mạch…Hầu như không ai có văn hóa giao tiếp, không ai có văn hóa và lịch sự…Vào cửa hàng mậu dịch quốc doanh ăn phở, cái thìa cũng bị đục lỗ chi chít để không bị đánh cắp…
Đi đâu cũng xếp hàng rồng rắn : xếp hàng để mua một lạng thịt, xếp hàng để mua một bao diêm, xếp hàng để mua một mét vải phin đen may quần, xếp hàng để chẳng mua được cái gì ngoài câu chửi ĐM nó… Trong khi cửa hàng Tôn Đản dành cho cán bộ cao cấp không thiếu thứ gì để các bà vợ các ông to mua hàng thúng hàng gánh ra bán cho chợ đen. Một xã hội quá bất công, quá hèn hạ chia giai cấp cả miếng ăn đại táo trung táo với tiểu táo…



Nguyễn Đính thất vọng, rồi tuyệt vọng hoàn toàn về cái gọi là miền Bắc thiên đường xã hội chủ nghĩa. Anh bắt đầu viết nhật ký để thoát khỏi những ẩn ức thực tại có thể làm anh tuyệt vọng đến vỡ tim mà chết vì cái xã hội cộng sản bánh vẽ kia…

Ô hay, một xã hội dã man, nghèo đói tột độ sao lại đòi đi giải phóng xã hội văn minh giàu có. Những ý nghĩ, những tư tưởng do thực tại cung cấp cứ từ đầu anh ộc ra trang giấy như một người bị ộc máu.

Và cái gì đến sẽ đến. Một kẻ nào ( đồng bọn hay đồng chí) đã đọc trộm cuốn nhật ký dám cả gan viết ra sự thật tồi tệ của xã hội miền Bắc của anh và nộp nó cho cấp trên…

Tất nhiên, giờ chết của Nguyễn Đính đã điểm. Cấp trên, và cả cấp trên của cấp trên anh đã chuyền tay đọc cuốn nhật ký phạm thượng của một trí thức miền Nam ra an dưỡng đất Bắc còn chưa được giác ngộ, chưa biết nói dối để gọi đói là no, gọi bất hạnh là hạnh phúc, gọi ác là thiện, gọi nô lệ nhà tù là tự do.


Nguyễn Đính – nhà thơ Trần Vàng Sao bị gọi lên thẩm vấn hàng nhiều tháng trời, còn kinh hơn bọn SS phát xít Đức thẩm vấn kẻ phản bội làm tay sai cho kẻ thù của thống chế Hít Văn Le.
Nền giáo dục nhân bản của Việt Nam cộng hòa dạy anh nói dối là vô văn hóa. Nhưng quy luật của chế độ cộng sản lại là, nói thật sẽ mất mạng. Muốn tồn tại trong thiên đường của nghèo đói và nô lệ kia, mày, Đính ơi, mày phải biết nói dối. Anh thầm mắng mình : mày sẽ phải bị thủ tiêu, vì mày đã dám gọi sự vật bằng tên của nó ngay trong nhật ký.

Anh trí thức miền Nam theo cộng sản chưa quen nói dối đã mấy lần toan tự sát vì bị thẩm vấn, bị quy kết phản động, bị hành hạ cho tới mức muốn anh phải khai bịa ra mình là CIA, là em kết nghĩa của Thiệu Kỳ mới làm công an cộng sản toại nguyện.
Anh không dám tự sát ( chết sướng hơn) chỉ vì anh còn có mẹ đang sống một thân một mình tại Huế chờ anh con trai độc nhất trở về. Đêm nào anh cũng mơ thấy mình bị xử bắn, bị cắt cổ, bị ném trôi sông…Đêm nào anh cũng nằm mơ thấy mẹ anh khóc ngất ngồi ôm xác cha anh bị Pháp bắn chết tại chợ Đông Ba năm 1947. Đêm nào anh cũng mơ thấy mẹ anh ngồi ôm xác anh bị mất đầu do các đồng chí của anh vừa cắt, ru à ơi à ơi, Đính ơi con chết không đầu / Mẹ ru con mắt còn đâu ngủ vùi…

Anh đã bị cầm tù trong chính doanh trại, trong chính nơi an dưỡng với khẩu phần tù chết đói. Anh Đính kể may mình có hai người trong tiểu ban văn nghệ miền Nam là chị Ngọc Trai ( Tôn Nữ Ngọc Trai con gái thượng thư Tôn Thất Đàn) và anh Doãn Triều cứu giúp những khi mình tuyệt vọng muốn tự sát. Anh chị này luôn động viên Đính phải sống để sau này còn gặp mẹ…

Năm 1975, sau mấy tháng trời Huế “giải phóng” anh Đính mới được về ôm mẹ. Mẹ anh chờ anh và đã biết chuyện con mình phản động bị tù trên đất Bắc vì tội nói ra suy nghĩ thật của mình trong nhật ký…
Trần Vàng Sao – Nguyễn Đính một người tù chuyên nghiệp, một thứ tù thả rông, một con người sinh ra để sự dối trá phi nghĩa hành hạ tới mức xuýt bị thủ tiêu.



Anh đã đi theo cha mình là liệt sĩ, nguyện đứng dưới ngọn cờ đỏ sao vàng mãi mãi nên mới có bút danh Trần Vàng Sao…

Ngôi sao vàng kia không chấp nhận anh, không cho phép anh nhìn và viết ra sự thật. Ngạn ngữ Pháp có câu : “Với chữ nếu, ta có thể bỏ tháp Eiffel vào cái chai”. Vâng, nếu sống lại, trở về thời 20 tuổi, Trần Vàng Sao chắc chắn sẽ lấy bút danh là Trần Vàng…Vĩnh biệt ngôi sao của ảo tưởng đã bị sự giả dối nuốt sống, cũng như cuộc đời anh đã bị lý tưởng kia nuối sống và nhả ra một cái bã người tội nghiệp, khổ đau uất hận đến chết . Trần Vàng …Sao, thương anh vô cùng ! Anh một nhà thơ đã bị sự thật cầm tù.,.




Sài Gòn 10-5-2018

Trần Mạnh Hảo

( xin quý vị vào mạng xem cuốn hồi ký của người tù thả rông là Trần Vàng Sao, với tên cuốn sách : “ Tôi bị bắt” còn lưu trên trang mạng )

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=5751&rb=08



Nhà thơ TRẦN VÀNG SAO

tau chưởi

tau tức quá rồi

tau chịu không nổi

tau nghẹn cuống họng

tau lộn ruột lộn gan

tau cũng có chân có tay

tau cũng có đầu có óc

có miệng có mắt

có ông bà

có cha mẹ

có vợ con có ngày sinh tháng đẻ

có bàn thờ tổ tiên một tháng hai lần

rằm mồng một hương khói bông ba hoa quả

tau đầu tắt mặt tối

đổ mồ hôi sôi nước mắt

vẫn đồng không trự nõ có

suốt cả đời ăn tro mò trú

suốt cả đời khố chuối Trần Minh

kêu trời không thấu

tau phải câm miệng hến

không được nói

không được la hét

nghĩ có tức không

tau chưởi

tau phải chưởi

tau chưởi bây

tau chưởi thẳng vào mặt bây

không bóng không gió

không chó không mèo

mười hai nhánh họ bây đem lư hương bát nước

giường thờ chiếu trải sắp hàng một dãy ra đây

đặng nghe tau chưởi

tau kêu thằng khai canh khai khẩn tam đợi mười đời

cao tằng cố tổ ông nội ông ngoại cha mẹ chú bác cô dì

con cháu thân hơi cật ruột bây tau chưởi

tau chưởi cho tiền đời dĩ lai bây mất nòi mất giống

hết nối dõi tông đường

tau chưởi cho mồ mả bây sập nắp

tau chưởi cho bây có chết chưa liệm ruồi bu kiến đậu

tam giáo đạo sư bây

cố tổ cao tằng cái con cái thằng nào móc miếng cho bây

hà hơi trún nước miếng cho bây

bây ỉ thế ỉ thần

cậy nhà cao cửa rộng

cậy tiền rương bạc đống

bây ăn tai nói ngược

ăn hô nói thừa

đòn xóc nhọn hai đầu

ngậm máu phun người

bây bứng cây sống trồng cây chết

vu oan giá hoạ

giết người không gươm không dao

đang sống bây giả đò chết

người chết bây dựng đứng cho sống

bây sâu độc thiểm phước

bây thủ đoạn gian manh

bây là rắn

rắn

toàn là rắn

như cú dòm nhà bệnh

đêm bây mò

ngày bây rình

dưới giường

trên bàn thờ

trong xó bếp

bỏ tên bỏ họ cha mẹ sinh ra

bây mang bí danh

anh hùng dũng cảm vĩ đại kiên cường

lúc bây thật lúc bây giả

khi bây ẩn khi bây hiện

lúc người lúc ma

lúc lên tay múa ngón sủi bọt mép gào thét

lúc trợn mắt khua môi múa mỏ đả đảo muôn năm

lúc như thầy tu vào hạ

lúc như con nít đói bụng đòi ăn

hai con mắt bây đứng tròng

bây bắt hết mọi người trứơc khi chết phải hô

cha mẹ bây ông nội ông ngoại bây tiên sư cố tổ bây

sống dai đời đời kiếp kiếp

phải quỳ gối cúi đầu

nghe bây nói không được cãi

phải suốt đời làm người có tội

vạn đợi đội ơn bây

đứa nào không nghe bây hớt mỏ chôn sống

thằng nào không sợ bây vằm mặt thủ tiêu

bây làm cho mọi người tránh nhau

bây làm cho mọi người thấy nhau nhổ nước miếng

đồ phản động

đồ chống đối

đồ không đá bàn thờ tổ tiên

đồ không biết đốt chùa thiêu Phật

thượng tổ cô bà bây

mụ cô tam đợi mười đời bây

tau xanh xương mét máu

thân tàn ma dại

rách như cái xơ mướp chùi trách nồi không sạch

mả ông bà cố tổ bây kết hết à

tụi bây thằng nào cũng híp mắt hai cằm

bây ăn chi mà ăn đoản hậu

ăn quá dã man

bây ăn tươi nuốt sống

mà miệng không dính máu

người chết bây cũng không chừa

năm năm mười năm hai mươi năm

xương chân xương tay sọ dừa vải liệm`

bây nhai bây khới bây mút

cả húp cả chan bây còn kêu van xót ruột

bao nhiêu người chết diều tha quạ rứt xương

khô cốt tàn dọc bờ dọc bụi giữa núi giữa rừng

để bây xây lăng đắp mộ dựng tượng dựng đài cho

cha mẹ cố tổ bây

hỡi cô hồn các đảng

hỡi âm binh bộ hạ

hỡi những kẻ khuất mặt đi mây về gió

trong am trong miếu giữa chợ giữa đường

đầu sông cuối bãi

móc họng bóp cổ móc mắt bọn chúng nó

cho bọn chúng nó chết tiệt hết cho rồi

bây giết người như thế

bây phải chết như thế

ác lai thì ác báo

tau chưởi ngày chưởi đêm

mới bét con mắt ra tau chưởi

chập choạng chạng vạng tau chưởi

nửa đêm gà gáy tau chưởi

giữa trưa đứng bóng tau chưởi

bây có là thiền thừ mười tám con mắt tau cũng chưởi

mười hai nhánh họ bây

cao tằng cố tổ bây

tiên sư cha bây

tau chưởi cho bây ăn nửa chừng mẻ chai mẻ chén

xương cá xương thịt mắc ngang cuống họng

tau chửi cho nửa đêm oan hồn yêu tinh ma quỷ

mình mẩy đầy máu hiện hình vây quanh bây đòi trả đầu trả chân trả tay trả hòm trả vải liệm

tau chưởi cho cha mẹ bây có chết cũng mồ xiêu mả lạc

đoạ xuống ba tầng địa ngục bị bỏ vào vạc dầu

tau chưởi cho cha mẹ bây có còn sống cũng điên tàn

đui què câm điếc làm cô hồn sống lang thang đầu đường xó chợ

bốc đất mà ăn xé áo quần mà nhai cho bây có nhìn ra

cũng phải tránh xa

tau chưởi cho con cái bây đứa mới đi đứa đã lớn

sa chân sẩy tay đui què sứt mẻ nửa đòi nửa đoạn

chết không được mà sống cũng không được

tau chưởi cho dứt nọc dòng giống của bây cho bây chết sạch hết

không bà không con

không phúng không điếu

không tưởng không niệm

không mồ không mả

tuyệt tự vô dư

tau chưởi cho bây chết hết

chết sạch hết

không còn một con

không còn một thằng

không còn một mống

chết tiệt hết

hết đời bây

29 tháng 6 năm 1997
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gởi tin nhắn Gởi email
Trình bày bài viết theo thời gian:   
Gởi bài mới   Trả lời chủ đề nầy    Diễn Đàn MẪU TÂM -> TIN TỨC VĂN NGHỆ - THỜI SỰ HẢI NGOẠI Thời gian được tính theo giờ Việt Nam PST (U.S./Canada)
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3 ... 14, 15, 16
Trang 16 trong tổng số 16 trang

 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gởi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn
|   Register   |   Tin nhắn riêng   |   Đăng Nhập

Powered by -php_BB- Copyright © mautam.net, 2005. All Rights Reserved