MỘT CƠN GIÓ BỤI - TRẦN TRỌNG KIM
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3, 4, 5
 
Gởi bài mới   Trả lời chủ đề nầy    Diễn Đàn MẪU TÂM -> TIN TỨC VĂN NGHỆ - THỜI SỰ HẢI NGOẠI
Xem chủ đề trước :: Xem chủ đề kế  
Tác giả Thông điệp
phuongtim11



Ngày tham gia: 30 3 2010
Bài gởi: 15290

Bài gởiGởi bởi: Sáu 6 14, 2019 6:14 am    Tiêu đề:



Nam Kinh lúc đó chẳng có một người Việt Nam nào khác. May nhờ có ông Ngô Thiết Thành cho người đưa giúp cho 500.000 bạc quốc tệ Tàu (5.000 bạc Ðông Dương) mới có tiền ở chờ tin ông Bảo Ðại.


Thành Nam Kinh là một nơi thắng cảnh bên Tàu,
vì là một thành đã từng đặt làm kinh đô trong thời Lục Triều, tức là Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương, Trần (222-420) rồi đến khoảng đầu thế kỷ XIV, nhà Minh lúc đó mới dựng nghiệp cũng lập kinh đô ở đó và xây thành bao bọc chung quanh dài đến hơn 30 cây số.


Thành ấy đến nay hãy còn nguyên, song những cung điện cũ chẳng còn gì cả, chỉ thấy chỗ hoàng thành cũ còn một mẩu đá hình rồng, người ta nói khi xưa đó là cái cầu trong các cung điện.


Trong thành có sông có núi, có nhiều chỗ là ruộng đất. Còn các dinh thự và phố xá ở một khu cũng khá rộng. Song sự sinh hoạt và buôn bán không được náo nhiệt như ở Thượng Hải hay ở Quảng Châu. phía đông bắc ngoài thành có cái hồ Huyền Vỏ là một nơi đến mùa nực, người ta đi du ngoạn rất tấp nập.



Những nơi cổ tích mà những thi nhân đời Ðường như Lý Thái Bạch, Lưu Vũ Tích và Ðỗ Mục nói trong thơ văn là Phượng Hoàng Ðài, Bạch Lộ Châu, Thạch Ðầu, Ô Ly Hạng, thì nay chỉ còn tên không, chứ không có di tích gì nữa.



Sông Tần Hoài chảy từ phía nam thành rồi vòng qua phía tây trước khi chảy vào Trường Giang. Phía nam sông Tần Hoài có một nhánh từ thành chảy ra. Phía hữu ngạn nhánh sông ấy có những phố xá cũ đông đúc và dưới sông có nhiều thuyền chơi để những khách làng chơi đến đêm đem những ca kỷ xuống hát xướng chơi bời.


Vào thời kỳ đầu thế kỷ 20 này, quốc gia phong kiến Trung Quốc bắt đầu xuất hiện các băng rôn quảng cáo dựng trên các con đường. Ảnh news.china.com






Sau khi chúng tôi đến Nam Kinh được mấy ngày, Tổng bộ Quốc dân đảng Tàu có cho người đem xe đến đưa chúng tôi đi xem lăng Tôn Dật Tiên ở cách thành Nam Kinh độ 10 cây số.


Ðường đi rất sạch sẽ và ở chỗ gần lăng người ta trồng rất nhiều cây thông. Lăng ở trên núi, làm theo kiểu mới có vẻ tráng lệ lắm. Những bậc thang lên lăng làm rất rộng lớn và khi đến trên lăng trông xuống phong cảnh rất vĩ đại.


Cách chỗ ấy độ vài ba cây số, có lăng vua Minh thái tổ, làm ở chân núi trong một khoảng đất rộng lớn, sự kiến trúc cũ kỹ và có phần đã đổ nát. Những tượng người cùng voi ngựa và lạc đà bằng đá ở xa xa mé ngoài cũng đã sứt mẻ, không mấy cái còn nguyên vẹn.


Trước kia ở Hà Nội, tôi có gặp ông Lưu Bá Ðạt, là người Việt Nam sang bên Tàu đã lâu và cố mời tôi sang với ông Bảo Ðại đã về Nam Kinh và đã có cơ sở làm việc. Ðến lúc tôi sang đến nơi, thì chẳng có gì cả, hỏi ra, thì Lưu Bá Ðạt và Lưu Ðức Trung ở Thượng Hải. Tôi liền điện đi Thượng Hải mời Lưu Ðức Trung lên để bàn tính mọi việc.






Lúc chúng tôi chờ tin Lưu Ðức Trung chúng tôi ngẫu nhiên gặp một người đàn bà Việt Nam lấy một người Thượng hiệu Tàu, mới trở về Tàu được vài tháng và cùng ở chung một khách sạn.


Người ấy gặp chúng tôi mừng rỡ lắm, nói là người ở phố hàng Nón, Hà Nội. Hai người vợ chồng ấy thường đi lại nói chuyện, sau thấy tôi mắc bệnh đau bụng, lại ngày ngày nấu cháo và làm cơm cho chúng tôi ăn. nơi xa lạ, gặp được người xứ sở thật là quý hóa.



Chiều ngày 14 tháng bảy, Lưu Ðức Trung và Trần Quang Tuyên ở Thượng Hải lên, gặp nhau mừng rỡ quá.


Ông Lưu đi lấy buồng ở khách sạn Tân An thuộc con đường Trung Sơn Bắc Bộ, rộng rãi và mát mẻ hơn. Hai hôm sau ông Lưu trở về Thượng Hải, để ông Trần Văn Tuyên ở lại với chúng tôi và nói mấy ngày nữa có bốn người ở Trùng Khánh là Ðinh Xuân Quảng, Phan Huy Ðàn, Ðặng Văn Sung, và Thường sắp đến Nam Kinh vào quãng ngày 20 tháng bảy. Mấy người ấy đến, cùng ở một khách sạn với chúng tôi .
Ai nấy đều ngong ngóng được tin ông Bảo Ðại .[color][/color]







Trước khi sang Tàu, tôi biết thế nào rồi Việt Minh và Pháp cũng đánh nhau, nên tôi có dặn nhà tôi và con tôi rằng :


Hễ tôi đi rồi, có những người Quốc dân đảng đã hứa sẽ tìm cách đưa gia quyến tôi sang Tàu, để ở tạm vùng biên giới ít lâu, chờ cho yên ổn rồi hãy về. Vì lúc ấy, theo lời những người Quốc dân đảng nói thì ở biên giới Tàu có các tổ chức sẵn sàng của họ.


Ngờ đâu là một chuyện vu vơ, chứ không có một chút gì gọi là có tổ chức. Tôi lên đến Ðồng Ðăng tôi biết là nhỡ việc rồi, chưa biết tính thế nào mà báo cho vợ con biết để đừng đi nữa.



Vả lúc tôi đi con tôi còn đau nặng, tôi chắc là không đi được. Sau nhân có bọn Hương Ký mà mấy người nữa chạy từ Móng Cái qua đất Tàu, rồi lên Nam Kinh mà trở về Ðồng Ðăng.


Trong bọn đó có con Hương Ký về Hà Nội, tôi viết mấy chữ nhờ đưa cho nhà tôi, bảo đừng đi đâu cả. Nhưng người con Hương Ký về lại không đưa cái giấy ấy.


Thành ra khi tôi đang ở Nam Kinh, thì vợ con tôi đi đường bộ không được, ra Hải Phòng đi tàu thủy tới Hương Cảng, ấy là không may mà lại hóa may, chứ đi đường bộ thì không biết chết sống thế nào.


Khi tôi đi qua Hương Cảng vào ngày mồng 4 tháng bảy, chính là lúc gia quyến tôi và ông Bảo Ðại đã ở Hương Cảng rồi, mà tôi không biết, cứ đi thẳng lên Thượng Hải .


Chúng tôi ở Nam Kinh đến ngày 28 tháng bảy, có người bí thư của trung ương đảng bộ Quốc dân đảng Tàu đem cái điện tín của ông Bảo Ðại gửi cho tôi, nói rằng :



"Tôi không có tiền lên Nam Kinh được, gia quyến của cụ cũng ở Hương Cảng".







Ðược tin ấy tôi giật mình. Trong cái tình cảnh eo hẹp này, một mình tôi còn chưa biết xoay xở ra sao để sống được, nay lại cả gia quyến cùng ra nữa thì làm thế nào Question Thật là lo quá.



Lúc ấy tôi xem lại cái ý những người trong chính phủ Tàu muốn ông Bảo Ðại cùng ít yếu nhân Việt Nam sang lập một chính phủ Lưu Vong ở Nam Kinh.
Song ông Bảo Ðại thấy rõ tình thế nước Tầu, cho nên ông không đi qua Nam Kinh mà bỏ về Hương Cảng.


Tôi biết cái ý của người Tàu. Tôi đến trung ương đảng bộ Tàu nói giúp tiền cho tôi đi Hương Cảng để gặp ông Bảo Ðại, rồi nếu thuận tiện, tôi sẽ mời ông ấy đến Nam Kinh .



Quốc dân đảng Tàu cho tôi vay 1.000.000 bạc quốc tệ (một vạn bạc Ðông Dương) và tặng tôi thêm 500.000 bạc (5000) để làm lộ phí.


Các xe ô tô Pháp hiện diện ở kinh thành Bắc Kinh. Ảnh news.china.com






Chiều ngày 30 tháng bảy hồi 4 giờ chiều chúng tôi đi xe lửa qua Thượng Hải. Sáng hôm sau đến nơi, chúng tôi đến khách sạn chỗ Lưu Ðức Trung ở. Tôi nói tình hình cho ông Lưu nghe và nhờ đi lấy vé tàu bay. Nhờ có giấy của trung ương đảng bộ giới thiệu, nên việc lấy vé tàu bay cũng nhanh chóng.



Trước chúng tôi định lấy vé tàu bay đi cả ba người,
nhưng từ đầu thánh tám trở đi, giá vé tàu bay phải trả gấp đôi, mỗi người phải trả 270.000 bạc quốc tệ, mà tiền chúng tôi chỉ còn hơn triệu bạc quốc tệ. Tôi bảo lấy hai vé để Vũ Kim Thành đi với tôi, còn ông Mão thì bảo ông chịu khó đi tàu thủy với bọn ông Thường. Ông Mão tỏ ý không bằng lòng, nhưng vì tình thế bắt buộc không làm sao được.


Sáng ngày mùng một tháng tám, Vũ Kim Thành và tôi lên tàu bay, 8 giờ tàu bay cất cánh, bay được một giờ tự nhiên nghe một tiếng nổ, nhưng tàu vẫn bay, chỉ thay đổi phương hướng.


Thì ra tàu bay hỏng,
phải quay về Thượng Hải nhưng không ai biết. Khi trở về tới nơi mới có giấy báo tàu bay hỏng phải quay trở lại.


Ðến 10 giờ hơn chúng tôi phải quay trở lại nhà khách sạn. Ai cũng lấy làm lạ, vì đã thấy tàu bay rồi, sao lại trở về. Ấy cũng là may, người cầm lái là người Mỹ, đã thạo việc, biết máy hỏng mà quay trở lại ngay, nếu không mà cứ đi thì có lẽ chết cả.


Các con tàu hơi nước trên sông ở Trung Quốc. Ảnh news.china.com







Sáng hôm sau, 6 giờ lại ra trường bay đi Hương Cảng.


Ðến 1 giờ trưa đến nơi. Ðem hành lý vào để nhà khách sạn rồi tôi cùng Vũ Kim Thành đến Quốc dân đảng bộ hỏi thăm chỗ ông Bảo Ðại ở. Viên thư ký Quốc dân đảng hết lòng tử tế, đưa chúng tôi đến khách sạn ông Bảo Ðại và gia quyến tôi ở.


Ðến đó gặp vợ con rất là mừng rỡ, nhưng cái mừng lúc ấy chỉ có được một lát thôi, vì cái lo đến ngay. Lo về nỗi làm thế nào mà sống ở cái xứ sinh hoạt đắt gấp mười lần bên nước nhà.


Hôm sau tôi gặp ông Bảo Ðại, lời đầu tiên ông nói :


" Chúng mình già trẻ mắc lừa bọn du côn".


Tôi đem tình thực trình bày rằng :



" Ngài không về ở Nam Kinh là phải lắm, vì xem tình thế nước Tàu đang có nạn cộng sản, chính phủ Tàu còn gỡ không ra, họ làm thế nào mà giúp chúng ta. Tuy bề ngoài thì họ đối đãi tử tế và nói những chuyện giúp đỡ nọ kia, nhưng sự thực thì họ không thể giúp ta được việc gì ra trò đâu.




Vậy chúng ta cứ đứng ở ngoài chờ xem tình thế biến đổi ra sao sẽ liệu“, ông Bảo Ðại cũng đồng ý như vậy.


Ông lại nói thêm :



"Chưa biết chừng bọn Tưởng Giới Thạch cũng phải cuốn gói chạy ngày nào đấy".



Ấy là câu chuyện nói đầu tháng 8 năm 1946 mà sau hóa ra đúng thật.







Tôi cùng gia quyến ở tạm khách sạn, mỗi ngày là 15 dollars Hương Cảng, giá mỗi dollars lúc ấy là 7 đồng Ðông Dương, còn tiền ăn không kể, tức là mỗi ngày phải tiêu đến 30 dollars.


Vợ con có gì bán đi để tiêu dùng. Ngày ngày đi tìm thuê một gian nhà ở, và để cho con đi kiếm việc làm.

Cách ba hôm sau, bọn ông Mão, Sung và ông Thường về Thượng Hải. Ông Mão đòi về Hà Nội. Tôi thấy ông chán nản lắm rồi, tôi cũng nghĩ ông trở về là phải.


Ông Bảo Ðại ở khách sạn được 10 hôm sau khi tôi đến gặp ông, rồi ông nhờ một người Tàu thuê cho ông một căn nhà gần trường đua ngựa, ông dọn đến ở đấy.


Tôi đi tìm nhà thuê không được . Một căn nhà rất nhỏ hẹp ở chung với một gia đình người Tàu mà cũng phải trả bảy tám chục dollars một tháng. Ấy là không kể lúc đến thuê phải trả một thứ tiền gọi là tiền trả cho người có nhà, ít ra là bảy tám chục dollars nữa. Nhà thuê không được, công việc con đi làm cũng không có. Làm thế nào Question



Ðặng Văn Sung và Vũ Kim Thành vào Quảng Châu để tìm việc làm.
Chúng tôi bàn định nếu ở bên Việt Nam Quốc dân đảng có tiếp tế sang được, thì vào cả Quảng Châu lập một cơ sở rồi tụ tập hết thảy những thanh niên chạy sang Tàu, và thu xếp cho ai đi học thì đi học, ai làm nghề gì thì tìm việc cho làm, còn ai làm nghề buôn bán thì lo việc buôn bán v...v...



Song đó là những điều dự đoán như vậy mà thôi, trăm việc phải có tiền mới làm được. Tin tức ở trong nước đợi mãi chẳng thấy gì cả. Sau thấy ông Ðỗ Ðình Ðạo ra Hương Cảng cũng ra tay không, thành ra ai cũng ngong ngóng tưởng đợi có tiền đưa ra thì khởi đầu tổ chức mọi việc.



Vào thời kỳ Thế chiến II,
nhiều người Do Thái cũng đổ về Trung Quốc. Ảnh: Một người phu kéo chở một vị khách người gốc Do Thái trên đường phố. Ảnh news.china.com






Sau thấy Vũ Kim Thành và Ðặng Văn Sung ở Quảng Châu ra bảo tôi vào để gặp tướng Trương Phát Khuê là chủ nhiệm quân sự cả vùng Quảng Ðông và Quảng Tây để xem có thể thực hiện được cái chương trình của chúng tôi đã dự định không.


Hôm 19 tháng tám, tôi vào Quảng Châu lại bị tướng Tiêu Văn ở bên Việt Nam trước,làm mọi điều khó dễ, thành ra tôi lại phải trở ra Hương Cảng không gặp họ Trương.


Lúc ấy ông Bảo Ðại ở cái nhà mới thuê không tiện, ông để cái nhà ấy cho tôi ở, chỉ phải trả mỗi tháng 120 dollars mà không mất tiền trà. Song chủ nhà giao hẹn chỉ được ở ba tháng thì phải trả lại cho người thuê cũ.


Cách ít lâu nghe tin ông Nguyễn Tường Tam ở Côn Minh đã lên Nam Kinh, rồi lại thấy ông Nguyễn Hải Thần cũng ra Quảng Châu và cho người mời tôi ra nói chuyện.
Tôi vào gặp ông, mới biết ý ông muốn lên Nam Kinh. Lúc ấy quốc hội Trung Hoa sắp họp để chuẩn bị hiếp pháp mới.







Ngồi nói chuyện với ông Nguyễn Hải Thần, tôi nói :


" Tôi xem nước Tàu không giúp ta về đường thực tế và ngoại giao đâu, cụ đi vô ích. Nhưng nếu cụ đã định đi, thì nên xin chính phủ Tàu cho chúng ta một cơ sở ở Quảng Châu để tụ tập các thanh niên Việt Nam chạy sang đây được ở với nhau và nuôi nhau cho khỏi đói khổ".


Ông Nguyễn nhận lời làm việc ấy. Ông lại bảo tôi nên vào gặp tướng Trương Phát Khuê.








Tôi vào Quảng Châu lần này, có gặp một người đàn bà nói là cháu ông Tôn Thất Thuyết. Khi ông chạy sang Tàu đến cư trú ở vùng Nam Hùng phía bắc tỉnh Quảng Ðông, và mất ở đấy, con cháu thành ra người Tàu cả.


Tôi trở về Hương Cảng,
quanh quẩn đã sắp hết hạn ba tháng thuê nhà. Tìm đâu cũng không thuê được nhà khác. Con tôi vẫn không tìm được việc làm. Tình thế rất bối rối, Ðặng Văn Sung định tìm cách về nước xem thế nào.


Ðến khi đi chiếc tàu con của người Tàu Bắc Hải, chiếc tàu ấy chở đồ nặng quá, ra khỏi Hương Cảng được ít lâu thì tàu đắm. Ông Sung may khỏi chết đuối, lại trở về quần áo mất sạch.


Khi ấy ở Hương Cảng tôi có biết một người Trung Hoa họ Lý, có nhà buôn bán xuất nhập cảng ở Hà Nội và Hải Phòng, có giúp tôi hai lần, mỗi lần 2.000 dollars, lúc ấy tính vào khoảng hơn ba vạn bạc Ðông Dương.


Nhờ có món tiền ấy tôi mới duy trì được mấy tháng. Sau tôi nghĩ ở Hương Cảng ăn tiêu đắt quá mà nhà không thuê được, chi bằng dọn vào Quảng Châu ở, cơm gạo còn rẻ hơn. Tôi đem việc ấy bàn với Ðặng Văn Sung và Vũ Kim Thành, hai người đều đồng ý kiến như vậy.


Máy bay bang ngang qua trên bầu trời thành phố Thượng Hải năm 1937. Ảnh news.china.com







Ðến cuối tháng 10 năm 1946, chúng tôi đến Quảng Châu, nhờ người họ Từ thuê cho được cái nhà ở khu Hoàng Xá, gần Sa Diện, mất 120.000 bạc quốc tệ (120 dollars) tiền trà và mỗi tháng trả tiền thuê nhà là 60.000 quốc tệ (60 dollars).


Tôi về Quảng Châu ở mấy hôm thì Ðặng Văn Sung và Vũ Kim Thành đi Nam Kinh rồi về Ðông Hưng bên Móng Cáy, cốt để tìm cách liên lạc với các bạn trong nước, mong lấy được tiền để đem ra làm những việc đã định.


Trước khi đi Vũ Kim Thành đưa Nguyễn Dân Thanh đã nói ở trên đến ở với tôi để giúp tôi trong khi có giao thiệp với người Tàu và khi tôi có đi đâu, thì đi làm thông ngôn cho tôi. Rồi sau lại có ông Ðỗ Ðình Ðạo ở Hương Cảng cũng vào ở với chúng tôi.


Quảng Châu là một thành thị lớn lao vào hạng nhì hạng ba ở nước Tàu, dân cư trù mật, buôn bán phồn thịnh. Phố xá có nơi đường phố sạch sẽ, nhà cửa rộng lớn, nhưng có nhiều nơi đường xá còn giữ nguyên vẻ cũ.


Xe ngựa và xe ô tô hiện đại cùng song hành trên một con đường ở đất nước Trung Quốc năm 1905. Ảnh News.china.com







Giữa đường cứ cách độ trăm thước tây lại có một khải hoàn môn bằng đá đục chạm theo kiểu cổ, đề những khoa thi tiến sĩ đời xưa, chắc là để mừng những người thi đỗ về vinh quy.
Còn có những đường, những ngõ lát đá tảng, hai bên có cống rãnh bẩn thỉu, nhà cửa lụp sụp và không được sạch sẽ lắm.


Phía dưới, giáp bờ sông
có một khu đất gọi là Sa Diện, chung quanh có con sông nhỏ bao bọc, ở trong là những lãnh sự quán, nhà ngân hàng và nhà buôn bán của ngoại quốc. Ðường xá khu ấy sạch sẽ và không cho xe cộ đi lại.


Ngoài thành thị có thể gọi là Phiên Ngung ,
tức là nơi Triệu Ðà đóng đô ngày xưa, nay thấy có mấy cái đồi và mấy cái nhà làm theo kiểu mới. Người ta nói đó là nơi Tôn Dật Tiên đóng trụ sở hồi Quốc dân đảng mới khởi lên.


Ði xa một đoạn nữa là Hoàng Hoa Cương
nơi chôn 72 liệt sĩ trong đảng cách mệnh nổi lên đánh nhà Thanh vào khoảng hơn 40 năm về trước.


Nay hàng năm đến ngày 29 tháng ba dương lịch có lễ kỷ niệm những liệt sĩ ấy ở đó. Bên cạnh Hoàng Hoa Cương, bên kia con đường có cái ngôi mộ một người Việt Nam tên Phạm Hồng Thái.


Ngày 19 tháng sáu năm 1925 l
ấy danh hiệu một phóng viên nhà báo, đến ném tạc đạn vào đám tiệc của người Pháp đãi viên Ðông Dương toàn quyền Merlin, khi viên ấy sang Sa Diện.


Phạm Hồng Thái ném xong chạy trốn,
nhảy xuống sông, chết đuối. Người Tàu đem chôn ở chỗ bây giờ, có dựng cái bia do Hồ Hán Dân viết. đấy đi xuôi một quãng xa, thì đến khu trường đại học làm trên những ngọn đồi, cây cối sầm uất, đường xá mát mẻ.






Nước Tàu thì ai cũng biết là một nước rộng lớn và có rất nhiều người, nhưng có đi qua các nơi mới thấy rõ sự rộng lớn của nước ấy và sự trù mật của dân nước ấy.


Xe chở hành khách
chạy trung bình 25 cây số một giờ mà phải chạy năm sáu giờ mới hết địa hạt một huyện, và có nhiều làng rất trù mật. Những làng bên Tàu không như bên ta có lũy tre bao bọc chung quanh. Nhà cửa ở các làng làm thành dẫy ở hai bên đường như ở các thành thị, chen chúc giáp mái nhau.


Những nhà mái lợp ngói, tường xây bằng gạch sống xếp chồng lên không có vôi hồ, rồi quét ngoài vôi trắng.


Nhà làm theo lối một cửa trước và một cửa sau, còn thì không có cửa sổ hay cửa nào khác nữa, trông xa còn khá, nhưng đến gần thì thấy tiều tụy, vào trong nhà lại thấy tối tăm và gà lợn ở lẫn với người, thật là bẩn thỉu.







Người Tàu thường ưa ở những cái buồng nhỏ hẹp, khi thấy cái buồng nào rộng, thì họ lấy gỗ ngăn thành mấy phòng nhỏ để mấy người hay mấy gia đình ở chứ không thích những buồng rộng rãi và khoáng đãng.


Tôi gặp những người đã sang ở bên ta, nói ta làm nhà để buồng là phí đất.



Xem cách làm nhà cửa và những nghệ thuật về đường trang sức của người Tàu hình như nó phản chiếu cái hình tượng của nước Tàu.
Nhà cửa hay miếu mạo thường làm to lớn vững chắc, có nhiều buồng nhiều ngõ, và có những kiểu trang sức rậm rạp.


Những người ở thôn quê thì làm ruộng làm vườn rất chăm chỉ. Ði qua thấy ở chỗ đồng áng có người làm ruộng tát nước như ở bên ta, nhưng họ không tát nước bằng gầu, mà chỉ tát bằng thứ guồng nhỏ đạp bằng chân. Những người ấy trông có vẻ đói rách khổ sở. Ðó cũng có lẽ là vì sự chiến tranh và nổi loạn trong mấy chục năm mà gây ra cái hoàn cảnh thê thảm ấy.


Lúc này, những món đồ nước ngoài được coi là thứ xa xỉ đối với phần đa dân Trung Quốc, những người vẫn sử dụng những công cụ thô sơ và tốn nhiều sức người như xe cút kít trong hình chẳng hạn. Ảnh news.china.com






Những nơi thành thị lớn gần mé biển, như Thượng Hải hay Quảng châu, thì sự sinh hoạt rất náo nhiệt nhưng xét kỹ ra thì còn kém về đường tổ chức.


Còn ở nội địa như ở Nam Kinh cũng có nhà máy điện song những đèn không sáng hơn ngọn đèn dầu của ta ngày trước. Những cột đèn thì thường làm bằng cây tre nhỏ, tưởng có gió to thì đổ hết cả. Dân ở đấy thì dùng nước sông đầy bùn.


Tôi còn nhớ ở khách sạn Nam Kinh,
Nsáng dậy người ta cho một chậu nước rửa mặt, để một lát thì bùn đọng ở đáy chậu một lớp khá dầy.







Trời nực ai muốn tắm mất độ 300 bạc quốc tệ, mà người ta chỉ cho vào cái thùng gỗ độ chừng hai ba thau nước.
Người Tàu gọi tắm là lấy khăn nhúng vào nước rồi lau mình, chứ không phải là nhúng mình vào nước hay là lấy nước dội lên mình.


Một hôm tôi mới đến Nam Kinh, trời nóng mấy người rủ nhau đi đến nhà tắm công cộng, mỗi người phải trả 450 quốc tệ.



Người ta đưa cho mỗi người một cái khăn tắm, giống như cái khăn lau bát của mình.


Ðến lúc vào đến buồng tắm, trời ơi,
thấy một cái bể tắm nước đục như nước rửa bát mà có đến năm sau người đầy những mụn nhọt, ghẻ lở, đang hì hụp trong cái bể ấy. Trông thấy mà rùng mình rồi, còn ai dám tắm nữa. Song người Tàu quen như thế rồi, không cho là ghê tởm, dơ bẩn nữa.



Những người dân nghèo gánh nước qua cây cầu ọp ẹp, tạm bợ. Ảnh news.china.com






Tính người Tàu rất cẩu thả, không có làm việc gì cho đúng hẹn. Xe hàng hẹn đúng 6 giờ sáng chạy, thì ít ra cũng phải đợi đến 8, 9 giờ mới bắt đầu đi.


Khi có việc cần kíp đánh điện tín đi chỗ nào, tưởng chừng năm ba ngày là chậm, thế mà phải đợi hàng tháng mới tới nơi, có khi lại không bao giờ tới.



Lúc đầu tôi mới đến Quảng Châu,
liền nhờ một người bạn của Vũ Kim Thành, trong chi bộ Quốc dân đảng, đưa đến sở bưu điện đánh cái điện tín lên Nam Kinh hỏi một việc, chờ đến mấy ngày không thấy có tin trả lời. Sau tôi đã lên đến Nam Kinh được hơn hai tuần lễ cái điện ấy mới đến nơi. Xem thế thì mới biết công việc làm ăn ở sở bưu điện của Tàu hỗn độn và cẩu thả chừng nào.








Thượng Hải,
tôi thấy một người làm trong sở quan thuế nói rằng những tiền thu vào được mười phần thì chính phủ chỉ được có ba phần là cùng, còn thì các công chức trong sở ấy chia nhau mất cả. Một chính phủ mà công chức làm việc như thế, thì làm gì mà không đổ nát.


Việc cá nhân đối với nhau cũng vậy, trừ khi nào người ta có những việc quan hệ tới quyền lợi hay tiền bạc, còn thì ít khi người ta giữ đúng lời hẹn.


Trước ta thường nghe người Pháp gọi sự hàm hồ cẩu thả của người Tàu là "Chinoiserie", thật có sang bên Tàu mới hiểu rõ cái tiếng chế nhạo ấy.


Xưa ta học đạo Nho, ta tưởng nước Tàu là nước đạo gốc ấy, tất người Tàu dù sao cũng còn giữ được cái căn bản nhân nghĩa, lễ trí,
ngờ đâu cái nền học cũ đã tiêu diệt mất hết cả, chỉ thấy rặt những sự đa trí xảo, lừa dối.


Nam thanh niên Trung Quốc thản nhiên ngồi lên một bức tượng nữ chiến binh. (Ảnh: dailymail.co.uk)






Nhất là những nơi thành thị lớn gần miền bể, người ta đắm đuối vào cuộc sống vật chất hèn kém, không thấy gì là lễ nghĩa liêm sỉ cả.


Các công chức
thì bất cứ việc gì cũng có mánh khóe để ăn hối lộ và những thanh niên phần nhiều xem ra rất xa hoa phù phiếm, và hầu hết đều muốn bắt chước sự hành động, cử chỉ của người Âu, người Mỹ.


Nhưng hình như chỉ có cái vẻ Âu, Mỹ ở bề ngoài,
kỳ thực thì Âu Mỹ chẳng phải Âu Mỹ mà Tàu thì thật chẳng phải Tàu như ta vẫn tưởng tượng.


Cái cảnh bề ngoài nước Tàu ngày nay chẳng thấy gì là cảnh tượng một nước đã thấm nhuộm lâu đời trong cái đạo học của nho giáo.

Tôi nói cái cảnh tượng bề ngoài mà thôi, vì tôi là người đi qua đường, thấy thế nào thì nói thế nấy, chứ hoặc giả còn nhiều cái tốt đẹp ẩn nấp ở bề trong nữa, thì không thể biết được.

Dù sao cái cảm tưởng của một người ở phương xa đã từng học theo đạo nho và chỉ biết nước Tàu nói trong sách cổ,
thì thật là một cái cảm tưởng rất ngao ngán cho giống người học một đàng làm một nẻo.



https://www.youtube.com/watch?v=CtSzcTmON_w




Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gởi tin nhắn
phuongtim11



Ngày tham gia: 30 3 2010
Bài gởi: 15290

Bài gởiGởi bởi: Tư 9 11, 2019 9:22 am    Tiêu đề:



MỘT CƠN GIÓ BỤI - Trần trọng Kim - Xuất bản lần đầu tại NxB Vĩnh Sơn, Sài Gòn 1969



CHƯƠNG 10



CUỘC PHÁP - VIỆT CHIẾN TRANH



Trong lúc chúng tôi còn ở Hương Cảng, thì ông Hồ Chí Minh và phái đoàn Việt Nam đang hội nghị ở bên Pháp.


Cuộc hội nghị ở Fontainebleau khởi đầu vào khoảng giữa tháng năm,
mãi đến tháng chín mà không xong được việc gì cả.









Khi người Pháp và người Việt đang bàn cãi ở bên Pháp,
thì ở Ðông Dương, cao cấp ủy viên là Hải quân trung tướng D'Argenlieu họp hội nghị kinh tế ở Ðà Lạt có đại biểu Nam kỳ Cộng Hòa quốc, đại biểu Cao Miên, và đại biểu Ai Lao bàn định mọi việc, coi như không có nước Việt Nam.


Ngày 6-3-1946, Hồ Chí Minh và các thành viên Việt Pháp ký Hiệp định Sơ bộ



http://www.geocities.ws/xoathantuong/vnc_hiepuocsobo.htm



Vì vậy mà cuộc hội nghị bên Pháp lại càng gay go thêm,
rút cuộc hội nghị ấy không thành kết quả gì cả. Ðến cuối thượng tuần tháng chín các phái viên Việt Nam xuống tàu thủy về nước.

Ông Hồ Chí Minh ở lại đến ngày 14 tháng chín năm 1946, ký thỏa hiệp án (Modus vivendi) với ông Marius Moutet, bộ trưởng bộ hải ngoại Pháp.



Thỏa hiệp án ấy, đại ý nói theo những điều trong hiệp ước sơ bộ trước mà giữ thái độ thân thiện cho đến thánh giêng năm 1947, là kỳ hạn cuối cùng, hai bên phải họp hội nghị để giải quyết các vấn đề cho thành bản điều ước nhất định.


Ông Hồ Chí Minh ký bản thỏa hiệp ấy rồi chính phủ Pháp cho chiếc tàu binh đưa ông về nước .
Thế là sau hai kỳ hội nghị ở Ðà Lạt và ở Fontainebleau, việc nước Việt Nam không sao giải quyết được.


Ông Hồ Chí Minh về đến Hải Phòng vào quãng tháng giêng, Việt Minh tổ chức việc đón tiếp rầm rĩ,
nhưng thực tình thì nhiều người ngậm ngùi vì tình thế mỗi ngày một nguy ngập. Dân khí tức giận, thà chết còn hơn quay trở lại làm nô lệ như trước.


Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng tại Paris, 1946







Quân Pháp ở Bắc Bộ thì sẵn sàng tấn công cho nên mới có sự xung đột ở Hải Phòng vào quãng cuối tháng một.
Vì thế lực không đủ, lẽ tất nhiên là quân Việt Minh thất bại phải lui ra ngoài Hải Phòng. Hai bên đều xuống lệnh đình chiến, nhưng quân hai bên vẫn cứ đánh nhau.



Việc dai dẳng như thế đến mấy ngày, trước ngày 19 tháng chạp dương lịch, thì người Pháp gửi tối hậu thư cho chính phủ Việt Minh bắt phải giao sở công an cho họ, hẹn đến ngày 20 là hết hạn.


Chính phủ Việt Minh biết là không sao tránh khỏi sự tấn công của quân Pháp
bèn mưu sự đánh trước một ngày để mong được thắng lợi trong khi bất ngờ. Xem như vậy thì người Pháp cũng có một phần khá lớn trong cái lỗi đã gây ra cuộc Pháp Việt chiến tranh kéo dài cho đến ngày nay.


Được lệnh của Thủ Tướng Bidault, ban tổ chức ngày Lễ Độc Lập 14/07/1946 phải dời ghế của HCM xuống hàng sau.
Bidault không muốn HCM ngồi cùng hàng với các lãnh đạo khác .





http://hon-viet.co.uk/ButSu_LichSuQuaHinhAnh.htm



Trước ngày 19 tháng chạp năm 1946, các yếu nhân trong chính phủ, quân chính quy Việt Minh đã rút ra ngoài cả rồi, chỉ có các đội quân tự vệ ở lại để đánh phá và bắt người Pháp và những người Việt Nam theo Pháp.


Quân tự vệ chống với quân Pháp trong thành Hà Nội được hai tháng mới rút lui.


Báo đăng tin HCM trở về Việt Nam từ Pháp





Trong khi hai bên chống cự nhau phần thì quân Pháp bắn phá, nhà cửa phố xá bị đốt rất nhiều.
Những phố như hàng Hòm, hàng Thiếc v...v... bị đốt phá gần hết. Những nhà nào chủ nhà bỏ chạy, thì quân Pháp vào lấy đồ đạc, của cải, rồi sau lại cho bọn người Tàu vào cướp phá.


Cái nhà của tôi ở phố nhà Rượu cũng bị quân tự vệ đốt cháy. Thành ra bao nhiêu sách vở của tôi, có lắm quyển rất cổ, rất quí, tích trữ trong mấy chục năm, đều hóa ra tro tất.


Tôi vẫn chưa hiểu vì lẽ gì mà họ đốt nhà tôi, hoặc là vì đốt nhà bên cạnh mà cháy lây sang, hoặc là Việt Minh thấy tôi bỏ đi, họ giữ không được, họ cho lệnh đốt nhà cho bõ tức.



Cái chiến lược của Việt Minh khi ấy là nếu chiến đấu thắng thì thôi, không thì rút ra ngoài, rồi sẽ dùng phương sách du kích và tiêu thổ, nghĩa là đốt phá hết sạch những nhà cửa dinh thự, chỉ để lại đám đất không.



Ðối với nghĩa quân Việt Minh thì cái phương sách thứ hai có hai chủ đích:



Một là gây sự cản trở cho quân địch, đi đến đâu không có chỗ cư trú, tiện lợi cho sự du kích của mình .


Hai là làm cho dân cư ở những phố phường trong các thành thị mất cả nhà cửa cơ nghiệp, rồi đói khổ điêu đứng, chỉ có theo cộng sản là sống mà không theo là chết .



VÌ THẾ NÊN CÓ NƠI HỌ PHÁ HOẠI TỪ XƯA TỚI NAY CHƯA TỪNG CÓ BAO GIỜ Exclamation Evil or Very Mad



https://www.youtube.com/watch?v=Yl157rKBDXc




Khi việc chiến tranh đã bùng nổ ở Bắc Bộ, chúng tôi ở bên Quảng Châu ai cũng ngơ ngác, không biết nghĩ sao.


Một bên người Pháp cố tình muốn lập lại chủ quyền như cũ,việc ấy dù muốn che đậy thế nào mặc lòng, người ta đã trông thấy rõ khi quân Pháp đổ bộ lên Hải Phòng và Hà Nội.



Một bên là Việt Minh đã trải bao phen hứa hẹn giữ nền độc lập của nước nhà, không lẽ lại bó tay chịu hàng phục người Pháp. Thành ra hai bên tuy có hội nghị ở Ðà Lạt và ở Fontainebleau, nhưng kỳ thực là dùng mưu thuật để lừa nhau, chứ không có cái gì là thành thực thì không sao tránh khỏi chuyện xung đột được.






Trong cái tình thế ấy, những người ngay chính vì nước rất khó nghĩ.


Việt Minh thì chỉ muốn dùng cách áp chế để củng cố địa vị của mình.
Ai theo họ thì họ để yên, ai không theo họ thì bị bắt bớ, chém giết, mà theo họ thì nhiều người không làm được những việc họ làm.


Pháp thì dùng võ lực mà đàn áp và dùng quyền mưu để lấy thắng lợi.
Người Việt Nam ai đã có lòng yêu nước thì không sao theo Pháp được, trừ ra một bọn xu danh trục lợi không kể.






Trong cái hoàn cảnh bối rối đau đớn ấy chúng tôi lại thấy những nhà cách mạng ở bên Tàu như bọn ông Nguyễn Hải Thần tuy có lòng tốt, nhưng không đủ tài năng mà cáng đáng việc lớn. Chúng tôi quay về mặt nào cũng không thấy có phương pháp nào giúp được nước.


Một hôm vào khoảng cuối tháng giêng năm 1947, tức là mấy ngày trước tết nguyên đán năm Ðinh Hợi, ông Bảo Ðại vào Quảng Châu, có gặp tôi nói chuyện về việc nước nhà. Ông rất băn khoăn về việc bắc bộ.


Tôi nói rằng:



"Tuy Việt Minh đã có nhiều điều lầm lỗi, nhưng nay họ đã đứng về phương diện kháng chiến để dành độc lập, thì họ có cái thế danh chính ngôn thuận, ai làm trái ngược lại là dân chúng không theo.


Chúng ta đành phải để thời cơ biến chuyển ra sao rồi sẽ tính. Nay việc chiến tranh đã xảy ra, tức là có bên được bên thua, chờ đến khi tình thế rõ rệt, ta sẽ liệu có thể làm được việc gì ích lợi cho nước".






Ông Bảo Ðại ở Quảng Châu mấy ngày rồi trở ra Hương Cảng.


Lúc ấy tôi đang ở trong cái hoàn cảnh nguy ngập, tiền thì sắp hết, ở trong thì đã đánh nhau, thì không mong có sự tiếp tế được nữa. Tôi tính chỉ còn đường về Sài gòn, có bạn bè và bà con có thể tư trợ cho được ít lâu. Tính như thế nhưng biết là thế nào mà về được.


Ðột nhiên ông Bảo Ðại cho người ra Quảng Châu mời tôi ra Hương Cảng có việc cần.


Tôi ra Hương cảng gặp ông Bảo Ðại, ông nói rằng:


" Có một người Pháp bên Ðông Dương sang đây, muốn gặp chúng ta để nói chuyện về việc bên nước ta, cho nên tôi mời cụ qua để bàn tính cho kỹ về việc ấy. Người Pháp ấy là ông Cousseau, trước có biết cụ ".


Hôm sau ông Bảo Ðại với tôi gặp ông Cousseau, nói chuyện chiến tranh ở bắc bộ, ai bị bắt, ai bị giết... Sau ông nói rằng:



"Cao cấp ủy viên Pháp bên Ðông Dương muốn hết sức điều đình để đem lại cuộc hòa bình, nhưng vì Việt Minh lừa dối, nên mới có sự chiến tranh, thật là thiệt hại cho cả hai bên".


Tôi nói:


"Cuộc chiến tranh này, do sự tôi biết, là phần lớn tại các ông gây ra. Nước Việt Nam chúng tôi là một nước từ Nam chí Bắc có tính cách duy nhất, đồng một ngôn ngữ, một phong tục lịch sử, mà các ông đem chia từng mảnh, rồi lại lập ra Nam Kỳ Cộng Hòa Quốc và gây những sự trêu chọc, thật rõ rệt là các ông không muốn hòa bình".


" Ðó là những việc tạm bợ nhất thời mà thôi, vì có nhiều nơi không theo Việt Minh. Nếu có những người quốc gia đứng đắn ra điều đình thì nước Pháp sẽ sẵn sàng nhượng bộ.“



" Việc điều đình bây giờ, muốn cho thành công, thì phải có toàn dân ưng thuận mới được. Mà nay số nhiều dân chúng đã theo Việt Minh, đứng vào mặt trận kháng chiến, tất là phải làm sao cho dân vừa ý mới mong có kết quả ."


" Việc ấy là việc của các ông. Các ông là người yêu nước nên ra sức mà giúp nước các ông. Trong cái tình thế ngày nay, cứ như ý ông thì nước Pháp phải làm thế nào cho người Việt Nam vừa ý ? "



- " Nước Pháp phải trả cái quyền độc lập cho nước chúng tôi và cho nước chúng tôi thống nhất từ Nam chí Bắc.“



- " Việc thống nhất có thể được, nhưng sự độc lập thì hiện bây giờ chính phủ Pháp chưa nghĩ đến tôi không thể nói được. Các ông nên tìm những điều kiện cho hai bên có thể thỏa thuận được.“


" Xin để chúng tôi nghĩ kỹ rồi mai chúng tôi xin cho ông biết.“



Tôi về bàn với ông Bảo Ðại, rồi kê ra 7 điều sau này để đưa cho ông Cousseau:



1 - Lập lại nền thống nhất của nước Việt Nam,
gồm cả ba kỳ và các dân tộc thiểu số như Mường, Mọi, Thái...


Nghĩa là lập lại nền thống nhất như các triều trước đời Tự Ðức .



Nước Việt Nam chưa được độc lập hẳn, thì ít ra cũng được hoàn toàn tự trị, người Pháp không can thiệp vào việc cai trị trong nước .



2 - Ðịnh rõ cái địa vị nước Việt Nam trong các nước liên hiệp của Pháp.


Việc liên kết với Cao Miên mà Ai Lao là việc riêng của mấy nước lân bang chúng tôi .

Chúng tôi xin bỏ cái dự án liên bang ở Ðông Dương, vì đó là một cách lập lại chế độ Ðông Dương toàn quyền.




3 - Chúng tôi nhất quyết không muốn ở dưới quyền một chức toàn quyền như trước nữa. Nước Pháp nên đổi thái độ mà theo đúng tinh thần thời nay, đừng cho đổi cái tên gọi mà vẫn giữ sự thực như cũ.


4 - NƯỚC VIỆT NAM PHẢI CÓ QUÂN ĐỘI QUỐC PHÒNG ĐỘC LẬP






5 - Nước Việt Nam
sẽ có các cơ quan tài chính cho đúng với cái nghĩa một nước tự chủ.


Chúng tôi sẽ sẵn sàng xét các quyền lợi về đường kinh tế của nước Pháp và các nước lân bang như Cao Miên và Ai Lao cho đúng lẽ công bằng.



6 - Nước Pháp nên định một cái hạn trong mấy năm sẽ cho nước Việt được độc lập hẳn.



7 - Nước Việt Nam sẽ có đại biểu ngoại giao với các nước ở Á Ðông và các nước khác có quyền buôn bán với Việt Nam.



Bảy điều ấy là những điều chúng tôi đưa cho người đại biểu cao ủy Ðông Dương là ông Cousseau vào khoảng đầu năm 1947.


Ông Cousseau xem rồi nói rằng:



" Nước Pháp sẽ cho nước Việt Nam được hơn nữa. Chỉ có một điều thứ sáu là hẹn cho hoàn toàn độc lập, thì nay tôi không dám chắc, vì tôi không có phận sự bàn về việc ấy".




Tôi nói:



" Nước Pháp ưng thuận những điều ấy, thì phải đảm nhận hẳn hòi, rồi cựu hoàng Bảo Ðại sẽ đứng ra điều đình với quân kháng chiến để đem lại hòa bình.



Nhưng cần nhất là phải để cho cựu hoàng hành động tự do, người Pháp đừng ra mặt can thiệp vào việc của ngài làm. Chỉ xin một điều là cho những người làm việc ra Hương Cảng giúp cựu hoàng mà làm việc".


Ông Cousseau nói:


" Những việc ấy có thể được cả, nhưng để tôi điện về Sài gòn và chờ bên ấy trả lời ra sao đã ".



Còn tiếp ,


Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gởi tin nhắn
Trình bày bài viết theo thời gian:   
Gởi bài mới   Trả lời chủ đề nầy    Diễn Đàn MẪU TÂM -> TIN TỨC VĂN NGHỆ - THỜI SỰ HẢI NGOẠI Thời gian được tính theo giờ Việt Nam PST (U.S./Canada)
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3, 4, 5
Trang 5 trong tổng số 5 trang

 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gởi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn
|   Register   |   Tin nhắn riêng   |   Đăng Nhập

Powered by -php_BB- Copyright © mautam.net, 2005. All Rights Reserved