Dòng nhạc Vàng Trước 75-Anh cho em mùa Xuân
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3 ... 197, 198, 199, 200, 201  Trang kế
 
Gởi bài mới   Trả lời chủ đề nầy    Diễn Đàn MẪU TÂM -> TIN TỨC VĂN NGHỆ - THỜI SỰ HẢI NGOẠI
Xem chủ đề trước :: Xem chủ đề kế  
Tác giả Thông điệp
Tre xanh



Ngày tham gia: 05 3 2008
Bài gởi: 11745

Bài gởiGởi bởi: Năm 3 22, 2018 7:38 pm    Tiêu đề:

Lệ Thu - Thuyền Viễn Xứ - Thu Âm Trước 1975



TÁC GIẢ BÍ ẨN CỦA
‘THUYỀN VIỄN XỨ'


Lúc sinh thời, Phạm Duy rất tâm đắc tác phẩm “Thuyền viễn xứ” mà ông phổ nhạc từ bài thơ của một thi sĩ ẩn danh – bút danh Huyền Chi. Huyền Chi là ai và cô đang ở đâu ?



Tôi đã gặp Phạm Duy lúc ông về Việt Nam, trong ngôi nhà khá vắng người, ông nói : “Bài nào viết ra tôi đều thích cả, nhưng trong đó “Thuyền viễn xứ” là một trong những bài tôi thích nhất. Tiếc là tôi không gặp lại được tác giả bài thơ hay đó. Nó là kỷ niệm của một thời đất nước loạn ly, những kẻ xa quê lòng luôn hướng về quê cha đất tổ”.



Một đời ẩn dật

Có một vài bài báo viết về tác giả Huyền Chi nhưng việc gặp được bà không hề dễ dàng bởi hầu như chưa bao giờ thấy Huyền Chi xuất hiện trong một sự kiện âm nhạc hay thơ văn nào mấy chục năm qua. Một lần tình cờ, một nghệ sĩ nhiếp ảnh là con người bạn của bà Huyền Chi nói với tôi về tác giả “Thuyền viễn xứ”: “Theo mình biết, cô Huyền Chi vẫn làm thơ, nhưng cô ấy không xuất bản”.

Nhờ có sự giới thiệu, tôi đã tìm gặp được tác giả bài thơ đã trở thành lời nhạc đi vào lòng nhiều thế hệ, nhưng vừa gặp cô đã bảo : “Tôi chẳng có gì mà kể cả đâu”. Rồi câu chuyện trở nên nóng hơn xung quanh tập thơ duy nhất ấy. Cô bảo : “Từ năm 1975 tới nay tôi thất lạc tập thơ của mình và cũng chẳng hy vọng một ngày lại nhìn thấy nó.

Sau khi chồng tôi mất, tôi buồn lắm, các con tôi bảo tôi nên chơi facebook. Tôi vào thế giới ảo, không lấy tên thật, nhưng có đưa tác phẩm của mình lên, ấy thế mà một số bạn đọc nhận ra tôi và họ từ Mỹ gửi tặng tôi một bản phô tô tập thơ của mình. Tôi không còn gì sung sướng hơn khi hơn 40 năm mới nhìn lại tác phẩm tâm huyết của cuộc đời mình, dù chỉ là bản phô tô từ giấy in rất xấu thời đó”.



Tác giả Huyền Chi năm nay đã 84 tuổi. Cô vẫn dạy Anh văn, một cách để rèn luyện trí nhớ, theo cách cô nói. Cô vẫn làm thơ, viết hồi ký, nhưng không phải để in mà để ghi lại những nỗi lòng mình. Cầm tập thơ của mình trên tay, cô lật giở cho tôi đến trang thơ in bài “Thuyền viễn xứ”. Giọng đọc của cô du dương, vần điệu, nhưng rất khúc chiết, mạnh mẽ :

Lên khơi, sương khói một chiều

Thùy – dương rũ bến tiêu – điều ven sông

Lơ – thơ rớt nhẹ men lòng

Mây trời pha dáng lụa hồng giăng ngang

Có thuyền viễn xứ Đà – Giang

Một lần dạt bến qua ngàn lau thưa

(Thuyền viễn xứ)


Lòng già mong con


“Những năm 1951-1952, lúc ấy cô làm thư ký tòa soạn mục thơ cho một tờ báo, cô vừa làm vừa học. Lúc đó cô có in tập thơ đầu tiên. Thình lình ông Phạm Duy vào. Ông ấy quen bà chủ nhà in, bà ấy giới thiệu. Cô mới đưa cho ông tập thơ vừa in xong. Ông Duy mới nói cô viết ký tặng cho ông ấy và sau này ông thích ông sẽ xin phép phổ nhạc. Đó cũng là lần gặp gỡ duy nhất giữa hai chúng tôi”. Tác giả “Thuyền viễn xứ” kể về những ngày tháng lúc cô mới 18 tuổi và tự bỏ tiền ra in tập thơ đầu tiên.

Nói về thơ và nghệ thuật làm thơ, nhà thơ Huyền Chi cho biết : “Tôi thích tất cả các nhà thơ. Trong thơ, tôi rất trọng vần điệu.Không có bài nào của tôi không có điệu. Có người hỏi tôi thế nào là bài thơ hay ? Tôi nói rằng: ý thì nhiều mà không có vần điệu thì bài thơ vẫn phải là bài thơ hay. Trong thơ phải có nhạc. Không có vần điệu, thơ chỉ như câu văn ngắn, không phải thơ. Có vần điệu mới có nhạc, có thơ”.




Một nhà thơ nữ mới 18 tuổi đã in thơ, phụ trách mục thơ của một tờ báo là chuyện khá hiếm vào những năm 1950. Thi sĩ Huyền Chi yêu thơ từ nhỏ: “7 tuổi đã biết chép thơ rồi” – cô nói. Bố cô làm giám đốc hỏa xa 3 tỉnh, ông tên Hồ Văn Ánh. Cô quê gốc Bắc Ninh, sinh năm 1934, khi ấy ông cụ do công việc duy trì đường hỏa xa, ông đi từ Bắc vào Nam.

Đi tỉnh này mấy năm, qua tỉnh khác mấy năm. Sinh cô ở Sài Gòn mà gia đình thì ở Phan Thiết. Ông cụ yêu thơ nên đặt tên các con là Nghiên, Thư. Đến cô con gái nhỏ này ông đặt tên là Hồ Thị Ngọc Bút. Cô bảo : “Khi làm thơ, ban đầu tôi lấy bút danh Khánh Ngọc, sau đó lấy bút danh Huyền Chi”.

Cuộc đời gia đình cô ly tán như biết bao gia đình thời kỳ chống Pháp. Cô kể : “Cha cô về Bắc và chết ngoài Bắc năm 1947. Ngoài Bắc khi ấy còn bà nội ở Bắc Ninh. Bà hấp hối, kêu cả nhà về. Lúc đó anh của cô bị bệnh, má cô nói là để về sau, để chồng ra Bắc trước. Ngoài Bắc có chiến sự giữa Việt Minh và Pháp, cha không vào Nam được.

Năm 1954 cha viết thư vào bảo “Mình (má cô) phải về, con thì đứa nào về được thì về”. Lúc đó mình má cô về Phù Lưu (Bắc Ninh). Sau bà cụ mất trước, bà cụ mất sau. Còn cô thì ở lại Sài Gòn, cha mẹ mất mà không nhìn thấy mặt”.

Về bài thơ, tác giả cho tâm sự : “Cô buồn mà viết bài đó, trước khi sông Gianh chia đôi đất nước. Cô viết khoảng năm 1951-1952. Đà Giang là mình tưởng tượng thôi, chứ lúc viết thì không ra Bắc được. Hồi đó chính trị khó khăn nên mình không nói rõ hết mọi sự về thân phận của cô là người gốc Bắc”.

“Có người nghe bài hát của Phạm Duy phổ nhạc, hỏi rằng “cố lý” có phải một địa danh ở Bắc không, xin thưa, cố lý chỉ có nghĩa là quê xa thôi. Phù Lưu, Bắc Ninh mới là quê của tôi. Lúc nhỏ vì bố làm nghề hỏa xa nên năm nào cũng được ra Bắc nghỉ hè, về quê.Trong bài hát có hình ảnh mái đầu bạc là mô tả mẹ của cô”.

“Sáu mùa mưa gió phũ phàng

Bến sông quay lại hướng làng nẻo xa

Lệ nhòa như nước sông Đà

Mái đầu sương tuyết mẹ già mong con”.

(Thuyền viễn xứ)

Cô Huyền Chi trầm ngâm : “Sau khi nhận thư của bố tôi bảo má tôi phải ra Bắc, bà đã bỏ sạp vải trong chợ Bến Thành ra với chồng, kể từ đó, tôi một thân một mình ở Sài Gòn, thương cha, nhớ mẹ, một mình lủi thủi nơi đất khách quê người. Tôi lập gia đình và bỏ luôn nghiệp làm thơ vì phải bận rộn cùng chồng nuôi 7 đứa con dại”.

Một đời ẩn dật



Năm 1954 thi sĩ lập gia đình khi mới đôi mươi. Chồng nhà giáo, đông con, phải giúp chồng làm kinh tế. Cô mở hiệu sách bán và dạy Anh văn. Trong cuộc đời ta, ai cũng muốn trở thành người nổi tiếng và nổi tiếng đôi khi cũng có nhiều cái lợi.Huyền Chi không nghĩ như vậy.

Cô bảo : “Tôi rất sợ hư danh, tôi không muốn nổi tiếng. Sau khi Phạm Duy phổ nhạc, bài hát rất nổi tiếng, những bản in của bài hát được bán khắp nơi, ai cũng hỏi Huyền Chi là ai vậy ? tôi không bao giờ xuất hiện và tôi cũng không nhận một đồng tác quyền nào từ bài hát này trước 1975, mặc dù tôi biết rằng số tiền nhuận bút khi ấy rất lớn. Phạm Duy không tìm được tôi, nên trên nhiều bản in của bài hát ấy có ghi dòng chữ Phạm Duy nhắn gửi: Huyền Chi cô ở đâu ?”.

Tôi nói với cô Huyền Chi rằng khi Phạm Duy còn sống, trong vài lần trò chuyện cùng tôi, ông cũng nói rằng bài “Thuyền viễn xứ” là một trong những bài hát mà ông viết ra rất nhanh, cảm xúc và rất yêu thích. Tiếc rằng không gặp lại được tác giả bài thơ.

Cô Huyền Chi tủm tỉm cười, gật đầu bảo : “Tôi biết nhạc sĩ Phạm Duy đi Mỹ rồi trở về định cư ở Việt Nam. Thông qua một người bạn, ông ấy viết thư cho tôi, bày tỏ ý định muốn gặp lại tôi. Nhận được thư, đọc xong, tôi xé quẳng vào thùng rác. Tôi không muốn gặp ông ấy, hay đúng hơn là tôi không muốn trở thành một người nổi tiếng làm gì”.



Cuộc đời của thi sĩ Huyền Chi thật không dễ dàng. Sau khi lấy chồng, cô phải làm đủ thứ việc để nuôi con và không làm thơ nữa. Sau năm 1975, cô được ông anh cho một ít ruộng để làm, mưu sinh, bởi khi ấy không ai cho dạy thêm, dạy kèm. Cô bảo : “Vì chúng tôi có ruộng nên không vào diện được cấp gạo. Tiếng có ruộng mà có ai biết cấy trồng gì đâu, trong nhà có lúc không còn gì ăn. May rồi cuộc sống cũng dần thay đổi, tôi lại được đi dạy Anh văn ở các trung tâm, từ đó cuộc sống dần qua lúc cùng cực”.

Tuổi 84, cô Huyền Chi vẫn đọc, vẫn viết, như thỏa mãn niềm đam mê đã bị bỏ lỡ một thời. Cô bảo : “Tôi viết thơ và đăng trên facebook của mình, nhờ thế mà tôi tìm được đứa cháu bên Pháp hơn 40 năm không gặp. Nó về Việt Nam nhiều lần tìm tôi, đăng báo tìm tôi mà không gặp nhau. Nhờ mò mẫm trên mạng mà nó tìm ra tôi, cũng nhờ tôi đăng lại bài “Thuyền viễn xứ” trên facebook, nhiều người vào bình luận mà nó tìm được tôi”.

Người cháu ấy là con anh trai của cô Huyền Chi. Người anh trai đã mất từ lâu, đứa cháu chỉ biết thông tin về cô của mình chính là tác giả bài thơ “Thuyền viễn xứ”, cứ thế mà nó mò mẫm tìm cô. Lúc tôi tới gặp cô, người cháu cũng đang ở Việt Nam. Cô Huyền Chi vui vẻ bảo : “Cháu tôi đã có cả quốc tịch Pháp và Việt Nam, nó rất hay về Việt Nam thăm, ở cùng tôi. Tôi rất vui vì nhờ bài thơ Thuyền viễn xứ mà cô cháu tôi đã tìm được nhau sau gần nửa thế kỷ thất lạc”.

Không làm thơ tình


Tập thơ của tác giả Huyền Chi có tên “Cởi mở” do Nxb Xây Dựng, Huế in. Tập gồm 24 bài thơ, do tác giả tự xuất bản, tự biên tập và tự mang đi bán. “Lúc đó thơ người ta nói về tình thôi. Lúc ấy cô viết tập thơ này không có bài nào là thơ tình, một phần vì chưa yêu, một phần vì muốn làm những vấn đề thời sự” – nhà thơ tiết lộ.

Cô ở trong một nhóm thơ văn nhạc gồm những người trẻ, cô làm phó hội thơ, mọi người gửi thơ tới, cô sửa để đăng. Sau khi lấy chồng vẫn viết thơ và truyện ngắn một thời gian nữa, rồi lo việc gia đình nên bỏ hẳn sáng tác.

Hơn 40 năm mới nhìn thấy lại tập thơ của mình, nhà thơ Huyền Chi bùi ngùi: “Thời đó chỉ dám in 500 cuốn, không dám in nhiều. Cô làm cô tự in tự bán.Lúc đầu bán chậm, sau lần lần người ta biết họ mua, họ tìm cô xin chữ ký, cô sợ mình thành người nổi tiếng nên lánh đi, không gặp độc giả nữa”.

Tập “Cởi mở” được viết trong thời điểm mà cô gọi là “thời kỳ máu lửa”: “Người Việt Nam ta bắt đầu đứng lên công khai mà chống Pháp, cô ủng hộ phong trào dân ta nổi lên chống Pháp, lúc đó phong trào đang máu lửa. Người Bắc vào Nam nhiều, nên người ta rất thích thơ của cô. Thời chiến tranh mình không thể nói thẳng ra, phải mượn hình ảnh để nói, chẳng hạn trong bài “Thuyền viễn xứ” có câu : Ngàn câu hát buổi quân hành/ Dặm trường vó ngựa đăng – trình nẻo xưa”.

(theo Trần Nguyễn Anh)






Ra khơi sương khói một chiều
Thuỳ dương rũ bến tiêu điều ven sông
Lơ thơ rớt nhẹ men lòng
Mây trời pha ráng lụa hồng giăng ngang
Có thuyền viễn xứ Đà Giang
Một lần dạt bến qua ngàn lau thưa
Hò ơi! Câu hát ngàn xưa
Ngân lên trong một chiều mưa xứ người
Đường về cố lý xa xôi
Nhịp sầu lỡ bước, tiếng đời hoang mang
Sau mùa mưa gió phũ phàng
Bến sông quay lại, hướng làng nẻo xa
Lệ nhoà như nước sông Đà
Mái đầu sương tuyết lòng già mong con
Chiều nay trời nhẹ xuống hồn
Bao nhiêu sương khói chập chờn lên khơi
Hai bờ sông cách biệt rồi
Tần Yên đã nổi bốn trời đao binh
Ngàn câu hát buổi quân hành
Dặm trường vó ngựa đăng trình nẻo xưa
Biết bao thương nhớ cho vừa
Gửi về phương ấy mịt mờ quê hương
Chiều nay trên bến muôn phương
Có thuyền viễn xứ lên đường… lại đi…

tác giả Huyền Chi
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gởi tin nhắn Gởi email
Tre xanh



Ngày tham gia: 05 3 2008
Bài gởi: 11745

Bài gởiGởi bởi: Tư 4 25, 2018 9:42 pm    Tiêu đề:

CA KHÚC ‘AI LÊN XỨ HOA ĐÀO’
VÀ MỐI TÌNH NGANG TRÁICỦA NGƯỜI NHẠC SĨ TÀI HOA…





Đà Lạt bồng bềnh phiêu lãng, Đà Lạt mờ hơi sương, Đà Lạt của màu hoa đào, của rừng thông, của Hồ Than Thở, của thung lũng Tình Yêu. Mọi thứ ở Đà Lạt đều tràn ngập màu sắc lãng mạn. Nhưng nói đến ca khúc nào viết về Đà Lạt nào hay nhất, đẹp nhất, ấn tượng nhất, thì ai cũng nói rằng, đó là Ai Lên Xứ Hoa Đào của người nhạc sĩ tài hoa bạc mệnh Hoàng Nguyên….




Đà Lạt, một trong những địa danh được ưu ái nhất của những nhạc sĩ tài hoa… Đà Lạt, thành phố của ngàn hoa, từ lâu đã đi vào lòng bao khách lãng du bằng vẻ đẹp sương – gió – mây – trời – cỏ cây. Hai tiếng “Đà Lạt” đã đủ khiến người ta mơ mộng.

Trong những năm tháng dạy học tại Đà Lạt vào thập niên 1950, niềm cảm hứng đã tới để nhạc sỹ tài hoa Hoàng Nguyên (1932-1973), người thầy của nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9, cho ra đời tác phẩm bất hủ này.



Lãng mạn, mộng mơ và tuyệt đẹp… ta có thể tìm thấy tất cả cảm giác bồng bềnh đó ở Đà Lạt, ở Ai Lên Xứ Hoa Đào.


Từ đồi Vọng Cảnh, Thung lũng Tình Yêu hiện ra trong tầm mắt đẹp tựa bức tranh; triền thông vi vu gió như “thôi miên” ta vào cõi hư vô; những ngôi nhà gỗ xinh xắn thấp thoáng trên những ngọn đồi đầy hoa cho cảm giác yên bình đến lạ lùng; những con đường đất đỏ vòng vèo đưa khách phiêu lưu cùng đỉnh Langbian thấp thoáng trong mây…

Những ca khúc tuyệt vời của Hoàng Nguyên viết về Đà Lạt đã được sinh ra chính trong thời gian nhạc sỹ sống và dạy học ở thành phố mù sương, trong tuổi hoa niên tươi đẹp, lãng mạn của chàng thanh niên hai mươi tuổi Hoàng Nguyên.



Có lẽ, trái tim đôi mươi dâng tràn nhựa sống, cảm hứng thi ca trong chàng trai trẻ mang tâm hồn nhạc sỹ đã không thể không bật thành lời trước một Đà Lạt quá đỗi nồng nàn. Ngay từ những lời đầu tiên, những nốt nhạc đầu tiên được cất lên, một Đà Lạt mơ huyền, lãng mạn, một Đà Lạt mang đậm “chất Đà Lạt” đã hiện ra trong lòng người nghe:

Ai lên xứ hoa đào dừng chân bên hồ nghe chiều rơi

Nghe hơi giá len vào hồn người, chiều xuân mây êm trôi

Thông reo bên suối vắng lời dìu dặt như tiếng tơ

Ca từ tuyệt đẹp, giai điệu nhẹ nhàng, ngọt ngào đã mang lại cho “Ai lên xứ hoa đào” một vị trí đặc biệt trong lòng người Đà Lạt, người yêu Đà Lạt và làng âm nhạc Việt. Và dù bài hát đã ra đời quá nửa thế kỷ, mỗi khi nhắc tới Đà Lạt, không ai có thể không nhớ tới ca khúc tuyệt vời ấy.



Đà Lạt của Hoàng Nguyên in dấu mộng “Đào Nguyên” của nhạc sĩ Văn Cao

Là người hâm mộ Thiên Thai của nhạc sĩ Văn Cao, chắc hẳn những hình ảnh về một cõi thiên thai “Đào Nguyên” nơi hai chàng Lưu Nguyễn lạc bước đã in dấu trong lòng người nhạc sĩ:

“Đào Nguyên xưa, Lưu Nguyễn quên đường về, tìm Đào Nguyên, Đào Nguyên nơi nao..” (Thiên Thai- Văn Cao)

Nên trong bài Ai Lên Xứ Hoa Đào, người ta thấy rất nhiều bóng dáng tiên cảnh :

“Xuân đi trong mắt biếc lòng dạt dào nên ý thơ.

Nghe tâm tư mơ ước Mộng Đào Nguyên đẹp như chuyện ngày xưa.”

Hay như:

“Đường trần nhìn hoa bướm rồi lòng trần mơ bướm hoa.

Lâng lâng trong sương khói rồi bàng hoàng theo khói sương.

Lạc dần vào quên lãng rồi đường hoa lặng bước trong lãng quên.”

Một cảm giác rất sâu tìm thấy ở Ai Lên Xứ Hoa Đào, một cảm giác rất khó lý giải..



Đà Lạt trong ca khúc Hoàng Nguyên hiện lên những gì điển hình nhất của phố núi, là sương, là hoa, là thông, là tà áo dài thấp thoáng trong sương. Nhưng sự lãng mạn của ca khúc này đến từ một cái gì đó rất đặc biệt, rất sâu mà người ta khó lý giải được.

Ca từ lãng mạn, âm nhạc của ông nhẹ nhàng, ngọt ngào, tha thiết như một lời tự sự lạ kỳ.

Ngoài “bộ ba”: Bài thơ hoa đào, Ai lên xứ hoa đào và Hoa đào ngày xưa đều được viết với giọng trưởng (major), thì về sau Hoàng Nguyên còn viết bản Đà Lạt mưa bay – một Đà Lạt với giọng thứ (minor), nhịp chậm, mang tâm trạng người trẻ trong thời ly loạn.

Năm 1973, nhạc sĩ tài hoa bạc mệnh từ giã cõi đời vì tai nạn giao thông ở Vũng Tàu, nhưng đã kịp để lại cho đời một khối lượng tác phẩm đồ sộ xuất sắc, với Bài Tango cho riêng em, Cho người tình lỡ, Đà Lạt mưa bay, Tà áo tím, Thuở ấy yêu nhau…vv.

Cuộc đời éo le và mối tình ngang trái của người nhạc sĩ tài hoa



Nhạc sĩ Hoàng Nguyên tên thật là Cao Cự Phúc, sinh 3 tháng 1 1932 tại Quảng Trị. Lúc nhỏ theo học trường Quốc học Huế. Đầu thập niên 1950, Hoàng Nguyên lên ở Đà Lạt, Hoàng Nguyên dạy học tại trường tư thục Tuệ Quang, thuộc chùa Linh Quang, khu số 4 Đà Lạt.

Hoàng Nguyên khi đó dạy Việt văn lớp đệ lục. Lúc đó, ông là thầy giáo dạy nhạc cho Nguyễn Ánh 9, người sau này trở thành một nhạc sĩ nổi tiếng đồng thời là nhạc công chơi đàn dương cầm.

Năm 1956, trong một đợt lùng bắt ở Đà Lạt, do trong nhà có các bản nhạc của nhạc sĩ Văn Cao, người mà Hoàng Nguyên rất ái mộ, Hoàng Nguyên bị bắt và đày ra Côn Đảo khoảng năm 1957. Ở Côn Sơn, thiên tình sử của người nghệ sĩ Hoàng Nguyên mở đầu với cảnh tình éo le và tan tác.

Là một tài hoa đa dạng, người tù Hoàng Nguyên được vị Chỉ Huy Trưởng đảo Côn Sơn mến chuộng nên đã đưa chàng ta về tư thất dạy Nhạc và Việt văn cho con gái ông, năm đó khoảng 19 tuổi… Mối tình hai người nảy nở, trăng ngàn sóng biển đã là môi trường cho tình yêu ngang trái. Ông chúa đảo phải lặng lẽ vận động để chàng nhạc sĩ tài hoa sớm được tự do.

Hoàng Nguyên được trả tự do, trở về Sài Gòn, tiếp tục sáng tác và dạy học ở trường tư thục Quốc Anh. Năm 1961, Hoàng Nguyên theo học tại Đại học Sư Phạm Sài Gòn, ban Anh văn. Trong thời gian theo học đại học, Hoàng Nguyên có quen biết với ông Phạm Ngọc Thìn, thị trưởng thành phố Phan Thiết. Bà Phạm Ngọc Thìn là nữ diễn viên Huỳnh Khanh, mến mộ tài năng của Hoàng Nguyên đã nhận ông làm em nuôi. Hoàng Nguyên dạy kèm cho Ngọc Thuận, con gái ông bà Phạm Ngọc Thìn. Hai người yêu nhau và Hoàng Nguyên trở thành con rể ông bà Phạm Ngọc Thìn. Trước đó Hoàng Nguyên có ý định quay lại với cô gái ở Côn Sơn, nhưng cô đã đi lấy chồng. Ca khúc Thuở ấy yêu nhau ra đời trong khoảng thời gian đó.

Năm 1965, Hoàng Nguyên bị động viên vào Trường Bộ Binh Thủ Đức. Sau đó chuyển về Cục Quân Cụ, dưới quyền của Đại tá nhạc sĩ Anh Việt Trần Văn Trọng và được giao quản lý ban nhạc Hương Thời Gian của Anh Việt. Hương Thời Gian xuất hiện trên truyền thanh và truyền hình Sài Gòn đã thu hút khá đông khán thính giả.

Ngày 21 tháng 8 năm 1973 ở Vũng Tàu, Hoàng Nguyên mất do một tai nạn xe hơi.







Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gởi tin nhắn Gởi email
Tre xanh



Ngày tham gia: 05 3 2008
Bài gởi: 11745

Bài gởiGởi bởi: Năm Tháng 5 17, 2018 11:06 pm    Tiêu đề:

Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu-Thanh Lan



https://www.youtube.com/watch?v=i3ZXI-NNC-s


Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu

Tim em chưa nghe rung qua một lần
Làn môi em chưa hôn ai cho thật gần
Tình trần mong manh
Như lá me xanh
Ngơ ngác rơi nhanh

Thu giăng heo may cho bóng cây lạnh đầy
Người cho em nghe câu nhớ thương từng ngày
Những ngày đợi chờ
Trong nắng vu vơ
Trong mắt ngây thơ



Nhớ khói xưa lạc vấn vương
Cho hơi ấm lên môi người
Lùa sương kín nhẹ vây ngập trường
Làm mây yêu thương
Vương trong hồn em

Người cho em nghe quen môi hôn ngọt mềm
Tình cho tim em rung những đêm lạnh lùng
Từng chiều cùng người
Về trong cơn mưa bay
Nghe thương nhớ tràn đầy
Lên đôi mắt thật gầy

Trưng vương hôm nay mây vẫn giăng đầy trời
Công viên năm xưa hoa vẫn rơi tuyệt vời
Bóng người thì mịt mùng
Từng hàng me rung rung
Trong cơn gió lạnh lùng
Trong nắng ngại ngùng

Nắng vẫn vương nhẹ gót chân
Trưng vương vắng xa anh dần
Mùa thu đã qua một lần
Chợt nghe bâng khuâng
Lá rơi đầy sân.




CA KHÚC TRƯNG VƯƠNG KHUNG CỬA MÙA THU

(nhạc ngoại quốc- lời Việt : Nam Lộc)

Vào khoảng giữa thập niên 1960, phong trào Nhạc Trẻ Việt Nam phát triển một cách mạnh mẽ, với những tên tuổi được giới trẻ yêu mến như Elvis Phương, Thanh Lan, Billy Shane, Đức Huy, Tuấn Ngọc, Khánh Hà, Anh Tú, Thuý Anh… Họ nổi danh với các bản nhạc ngoại quốc hát bằng lời Pháp và Anh. Những hộp đêm Mỹ ngày càng nhiều từ 1968, càng khuyến khích số người hát nhạc Mỹ nhiều hơn. Trước sự phát triển mạnh của các ca khúc ngoại quốc nổi tiếng, các nhạc sĩ Phạm Duy, Quốc Dũng, Nam Lộc, Tùng Giang, Trường Kỳ, vv… đã đặt lời Việt cho nhạc ngoại quốc, để kéo giới trẻ đến với phong trào “Việt hoá nhạc trẻ”.

Một trong những tên tuổi tiêu biểu trong phong trào ấy mà chúng tôi muốn nhắc đến là nhạc sĩ Nam Lộc. Ông đã đặt lời Việt cho rất nhiều ca khúc ngoại quốc được công chúng đón nhận một cách sâu rộng. Nhiều người cứ ngỡ bài hát đó là những thuần tuý nhạc Việt Nam, như Mùa Thu Lá bay, Mây lang Thang, Chỉ Là Giấc Mơ Qua….

Trong số những ca khúc được nhạc sĩ Nam Lộc đặt lời Việt, có một bài hát nói về câu chuyện tình kết cục bi thảm nổi tiếng của tuổi thanh thiếu niên Mỹ vào năm 1960 là bài “Tell Laura I love her”. Nam Lộc đã chuyển lời Việt thành nhạc khúc học trò thơ mộng lãng mạn “Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu”.

Trưng Vương là tên của ngôi trường nữ trung học danh tiếng trước năm 1975 tại Sài Gòn. Bài hát “Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu” trước năm 1975 được thâu âm đầu tiên bởi ca sĩ Thanh Lan – Tiếng hát học trò của Sài Gòn một thời kỷ niệm. Bài hát đã nhanh chóng trở thành Top Hits trong giới sinh viên học sinh.

Sau năm 1975, ở hải ngoại có rất nhiều ca sĩ thâu âm lại ca khúc này như Ngọc Lan, Kiều Nga, Như Quỳnh… Nữ ca sĩ Thuý Vi trình bày bài hát này trong chương trình Asia video thu hình lần đầu tiên tại Las Vegas với chủ đề ĐÊM SÀI GÒN 1, đã để lại trong lòng người yêu nhạc những hình ảnh khó quên với giọng ca, với tà áo dài trắng và gia điệu Rumba dập dìu của Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu…

Hãy cùng nghe lại để nhớ về khung trời của sân trường ngày cũ….



Đọc Thêm:

TELL LAURA I LOVE HER’ & ‘TRƯNG VƯƠNG – KHUNG CỬA MÙA THU’

Dù là lấy nhạc từ Tell Laura I love her, nhưng Trưng Vương khung cửa mùa thu có những nét rất riêng, và nếu có thể chọn lựa, tôi sẽ chọn để nghe bản lời Việt, bởi những ngôn từ thanh thoát đầy chất thơ của nó.

Tim em chưa nghe rung qua một lần
Làn môi em chưa hôn ai cho thật gần
Tình trần mong manh
Như lá me xanh
Ngơ ngác rơi nhanh


Mùa thu là mùa của nỗi buồn, của chia tay, của những mối tình dang dở. Ở tuổi còn đi học, những nam sinh những năm 70 vẫn có những kỷ niệm đến đứng ngẩn ngơ ở cổng trường con gái như những cửa trường Gia Long, Nguyễn Bá Tòng, Sương Nguyệt Ánh hay Trưng Vương. Để rồi “Em tan trường về, mưa bay mờ mờ, anh trao vội vàng chùm hoa mới nở, ép vào cuốn vở”. Người con gái như đóa hoa hồng, hoa pensée, hoa mimosa hay hoa phượng hồng như môi em. Một nụ hôn đầu ngất ngây để rồi nhung nhớ mãi mãi về sau. Mùa hạ đến rồi mối tình chia ly vì lý do nào đó… Để rồi khi sang mùa thu, mùa tựu trường, cô gái Trưng Vương nhìn lá vàng rơi ngoài đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, theo gió heo may vi vu để nhớ đến người bạn trai xưa với nụ hôn đầu nồng nàn.



Đã lâu lắm rồi, từ những năm 70, tôi đã nghe Thanh Lan hát Trưng Vương khung cửa mùa thu do Nam Lộc viết lời Việt, lúc đó tôi rất thích bài hát này rồi. Đến những năm 90, tôi lại nghe Ngọc Lan hát bài hát này. Tôi thích cô gái trong bài hát của Nam Lộc, cô ấy có vẻ gì đó thật thơ ngây, dịu dàng. Cô ấy là một nữ sinh mà “tim chưa rung một lần, làn môi chưa hôn ai thật gần? – sao mà dễ thương lạ. Cô ấy thanh khiết đến mức chiếc lá me khi rơi cũng rơi trong sự “ngơ ngác”, có lẽ một sự tình cờ nào đó đã làm cô biết nhớ mong?

Thu giăng heo may cho bóng cây lạnh đầy
Người cho em nghe câu nhớ thương từng ngày
Những ngày đợi chờ, đợi người qua cơn mơ
Trong mắt ngây thơ
Trong nắng vu vơ


Thì ra, đúng là cô ấy đã biết nhớ. Tôi nghĩ, chắc chắn đó không phải là tình yêu. Tình yêu là điều gì thiêng liêng và cao xa lắm, người ta không nên sử dụng nó một cách dễ dàng được. Có lẽ, cô nữ sinh này đã thương một ai đó thôi, đủ trong sáng, đủ làm cô biết đợi chờ. Nắng cũng trở nên vu vơ, và đôi mắt cô cũng vẫn ngây thơ. Bởi lẽ, những cảm xúc vừa đến ấy cũng thánh thiện như chính cô vậy.

Nhớ khói bay lạc vấn vương
Cho hơi ấm lên môi người
Lùa sương kín nhẹ vây ngập trường
Làn mây yêu thương
Vướng trong hồn em


Và, cuộc tình của cô đã mong manh thế đấy. Mong manh bởi “khói bay”, mong manh bởi “hơi ấm”. Cái khung cảnh hai người trong sân trường, chỉ hai thôi, một buổi chiều lãng đãng cùng sương kín, cùng làn mây, đấy là thế giới của riêng họ mà. Nụ hôn đầu diễn ra trong bối cảnh ấy thì đẹp và nên thơ quá đi chứ. Có lẽ, họ sẽ ngượng ngùng lắm, nhưng sau phút giây ngượng ngùng ấy, họ sẽ đứng cạnh nhau… thật gần, để ngắm cái khung cảnh trước mắt, để cảm nhận “yêu thương vướng trong hồn em?”.



Người mang cho em quen môi hôn ngọt mềm
Tình cho tim em rung những đêm lạnh lùng
Từng chiều về cùng người
Về trong cơn mưa bay
Nghe thương nhớ tràn đầy
Lên đôi mắt thật gầy.


Có còn gì đẹp hơn thế nữa không? Những chiều mưa bay, hai người cùng nhau về, thơ mộng ghê, trong sáng ghê. Cơn mưa bỗng ngọt ngào và đáng yêu lạ. Còn hình ảnh “đôi mắt thật gầy” lạ quá. Tôi vẫn thấy người ta hay so sánh đối vai gầy, dáng gầy, chứ thương nhớ tràn vào mắt làm sao mà gầy được nhỉ? Tại sao cô gái đang sống trong ngày tháng hạnh phúc thề mà vẫn đượm chút gì đó thật buồn… Hay bởi lẽ, cô hiểu là sẽ có ngày chia xa?



Trưng Vương hôm nay mây vẫn giăng đầy trời
Công viên năm xưa hoa vẫn rơi tuyệt vời
Bóng người thì mịt mùng
Từng hàng me rung rung
Trong cơn gió lạnh lùng
Trong nắng ngại ngùng


Và họ xa nhau thật. Cảnh Trưng Vương nay vẫn như ngày xưa đó, mà sao bóng anh thì cứ “mịt mùng”. Nắng đã thôi vu vơ như thưở nào, cơn gió thì lạnh lùng. Cái cảm giác như cô gái đang một mình bước từng bước trên con đường cũ, nghe nỗi nhớ thấm dần vào từng thớ thịt. Ký ức thì bao giờ cũng đẹp, nhưng chính vì lẽ đó mà nó làm nỗi nhớ nhức nhối. Có gì đó cứ day dứt theo từng nhịp, từng lời hát của Ngọc Lan.

Nắng vẫn vương nhẹ gót chân
Trưng Vương vắng xa anh dần
Mùa thu đã qua một lần
Chợt nghe bâng khuâng
Lá rơi đầy sân.


Toàn bài hát, tôi chỉ thích mỗi đoạn cuối này, “Mùa thu đã qua một lần, chợt nghe bâng khuâng, lá rơi đầy sân“. Tôi chẳng lãng mạn đến mức yêu mùa thu đâu, nhưng có lẽ, hôm nay là một ngoại lệ. Hì, mùa thu, tháng 9, nỗi nhớ cứ về thế này. Nếu có ai hiểu được cảm giác nắng vương gót chân, có lẽ sẽ hiểu vì sao mà Trưng Vương mùa thu buồn đến thế.

(Trích: TELL LAURA I LOVE HER’ & ‘TRƯNG VƯƠNG – KHUNG CỬA MÙA THU’ – Nguồn: Dongnhacxua.com)


Trung Vuong khung cua mua thu * Ngoc Lan




ttps://www.youtube.com/watch?v=kGYCPH0dNsI
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gởi tin nhắn Gởi email
Tre xanh



Ngày tham gia: 05 3 2008
Bài gởi: 11745

Bài gởiGởi bởi: Tư Tháng 5 30, 2018 12:38 am    Tiêu đề:

Tiếng thời gian (Thái Thanh)

nhạc sĩ Lâm Tuyền



Mưa rơi hiu hắt, ai sầu mùa đông.
Không gian u ám sương mờ, mờ buông.
Xa trong đêm vắng chuông buồn, buồn ngân.
Mùa đông xưa rét mướt, bến sông, ngừng chân
Chờ ai trong tê tái, lắng nghe, chuông than.
Thời gian trôi tan tác, mang theo, ngày xuân
Mưa đêm nay khóc thầm
Cuộc đời đầm ấm đã theo thời gian.

Ngoài kia gió sương mờ.
Lìa cây lá giang hồ.
Về đâu! Về đâu!
Ngày xuân thoát đi dần,
lòng ta tái tê sầụ
Người cười nhưng ta vẫn khóc thầm.
Đời chim bạt gió
Kìa ai thoáng mơ hồ
Ngừng chân dưới mưa dầm.
Nhìn lầu nguy nga ước mơ thầm.
Bao nhiêu xuân qua, lòng không tình yêu

Mưa rơi hiu hắt, ai sầu mùa đông.
Không gian u ám sương mờ, mờ buông.
Xa trong đêm vắng chuông buồn, buồn ngân.
Mùa đông mưa rét mướt, bến sông, ngừng chân
Chờ ai trong tê tái, lắng nghe, chuông than
Thời gian trôi tan tác, mang theo, ngày xuân
Mưa đêm nay khóc thầm
Cuộc đời đầm ấm đã theo thời gian.










Nhà thơ Du Tử Lê viết về nhạc sĩ Lâm Tuyền:

Tôi vẫn nghĩ, người lạc quan, rộng lượng cách mấy, cũng không thể không nhận ra, trong lãnh vực văn học, nghệ thuật, nếu có những tên tuổi được biết đến, nhắc nhở nhiều, không hề vì tài năng thật thì, chúng ta cũng có không ít, những tài hoa lớn, bị định mệnh hàm hồ, đố kỵ đẩy vào quên lãng.


Tính đố kỵ hay bản chất nghiệt ngã của định mệnh trước những tài hoa ngoại khổ, dường không bỏ sót một vùng đất, một thời đại nào.

Lịch sử văn học, nghệ thuật thế giới ghi nhận, có những tài hoa xuất chúng, khi sống bị lãng quên, bằn bặt. Nhưng cuối cùng, trên nấm mồ của họ, khi cỏ đã xanh, những vồng hoa rực rỡ nhất, đã được nhân gian biết ơn. Ngợi ca. Tưởng tiếc. Dẫu muộn màng,

Nói vậy, không có nghĩa tài năng ngoại khổ nào, cuối cùng, khi đã nằm xuống, cũng được định mệnh tỵ hiềm, ganh ghét hồi tâm, buông tha! Thực tế, vẫn có những tài năng lớn, cuối cùng, khi nấm mồ được lấp thì, nó lại như một tầng lãng quên khác, phủ thêm lãng quên lên di hài người quá cố!

Cũng thế, đành hanh định mệnh kia, không quên Việt Nam.

Tôi muốn nói giai đoạn văn học, nghệ thuật miền nam, 20 năm, dù ngắn ngủi, nhưng chẳng vì thế mà được định mệnh miễn trừ.

Một trong những tài hoa rất mực của văn học, nghệ thuật miền Nam, 20 năm, theo tôi, là cố nhạc sĩ Lâm Tuyền.

Ông là tác giả của những ca khúc từng được những người cùng giới coi như kinh điển. Đó là những tình khúc còn lưu truyền tới hôm nay, với nhịp đập của trái tim rực rỡ tài hoa trong tác phẩm, không vì thời gian mà giảm sút phần rưng rưng. Thổn thức.

Có thể chúng ta không biết tên những ca khúc như “Tiếng thời gian,” “Hình ảnh một buổi chiều” “Tơ Sầu, hay “Khúc nhạc ly hương”, “Nhắn người viễn xứ” hay “Lặng lẽ”, “Trở về dĩ vãng”… Nhưng tình cờ, đâu đó, chí ít cũng một lần, chúng ta đã nghe:

“Đàn chim tung cánh xa khuất mờ

Chiều thu lưu luyến màu thương nhớ

Nhớ mái đầu ai nhuộm nắng vàng

Buồn biết bao giờ cho hết nguôi…”

(Theo Wikipedia, Bách khoa toàn thư mở).

. . . . .. .

Ca sĩ Quỳnh Giao (cũng là giáo sư dương cầm), trong bài viết nhan đề “Lâm Tuyền và giấc mơ sông hồ”, có đoạn:

“… Toàn thể tác phẩm của Lâm Tuyền quả là ít, nhưng rất nghệ thuật và độc đáo. Vào thập niên 50, tân nhạc Việt Nam mới tiến qua ngưỡng cửa ‘phôi thai’, mà với nhạc thuật vững vàng, câu cú có hệ thống rành mạch như Lâm Tuyền thì thật ra rất hiếm. Nghe nhạc mình nhận ra trình độ của người sáng tác. Có học nhạc pháp, hòa âm mới viết được như thế.

Các nhạc trưởng có tài năng như Vũ Thành, Hoàng Trọng, Văn Phụng, Nghiêm Phú Phi đều công nhận giá trị nhạc thuật Lâm Tuyền và thích thú khi viết hòa âm cho các tác phẩm của ông….” (4)

Phải chăng, chính vì tài hoa Lâm Tuyền được những tên tuổi lừng lẫy trong giới, cùng thời công nhận mà ông đã bị định mệnh vùi dập, tàn nhẫn như ghi nhận sau đây của Trần Áng Sơn, trong tác phẩm nhan đề “Những trang khép mở”:

“Sau 1975, tôi gặp lại nhạc sĩ Lâm Tuyền mấy lần – ông già đi là lẽ dĩ nhiên – nhưng nỗi buồn ẩn hiện trong những nét khắc khổ trên gương mặt, khiến làm tôi nao lòng! Đã từng biết ông, từng được ông truyền những kỹ thuật solo, làm sao tôi có thể thản nhiên!!!

“Đã bước sang năm thứ 2 của thế kỷ XXI, Lâm Tuyền không còn nữa, ông mất cách đây mấy năm, ra đi âm thầm, đúng theo cách mà người ta đối xử với ông…” (Nhà XB Trẻ, Saigon. Tập 2. Tr. 141-146) (5)

(Trích: Tác giả “Tiếng thời gian”, Lâm Tuyền, bằng chứng khác của định mệnh nghiệt ngã - Du Tử Lê)
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gởi tin nhắn Gởi email
Trình bày bài viết theo thời gian:   
Gởi bài mới   Trả lời chủ đề nầy    Diễn Đàn MẪU TÂM -> TIN TỨC VĂN NGHỆ - THỜI SỰ HẢI NGOẠI Thời gian được tính theo giờ Việt Nam PST (U.S./Canada)
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3 ... 197, 198, 199, 200, 201  Trang kế
Trang 198 trong tổng số 201 trang

 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gởi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn
|   Register   |   Tin nhắn riêng   |   Đăng Nhập

Powered by -php_BB- Copyright © mautam.net, 2005. All Rights Reserved