Dòng nhạc Vàng Trước 75-Anh cho em mùa Xuân
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3 ... , 199, 200, 201  Trang kế
 
Gởi bài mới   Trả lời chủ đề nầy    Diễn Đàn MẪU TÂM -> TIN TỨC VĂN NGHỆ - THỜI SỰ HẢI NGOẠI
Xem chủ đề trước :: Xem chủ đề kế  
Tác giả Thông điệp
Tre xanh



Ngày tham gia: 05 3 2008
Bài gởi: 10008

Bài gởiGởi bởi: Năm 8 16, 2018 5:18 pm    Tiêu đề:

NỤ CƯỜI SƠN CƯỚC | SĨ PHÚ | NHẠC VÀNG TRƯỚC 75









'Chúng tôi sẽ nhớ mãi về 'Thằng Hèn Vĩ Đại'






Nhạc sỹ Tô Hải của nhạc phẩm 'Nụ cười Sơn cước' được biết đến nhiều sau tác phẩm phản tỉnh của ông 'Hồi ký một thằng hèn'. FACEBOOK

Tin cho hay, nhạc sỹ lão thành Tô Hải, nhà bất đồng chính kiến được biết đến nhiều quá cuốn sách 'Hồi ký của một thằng hèn' qua đời tại Sài Gòn hôm 11/8/2018 sau một thời gian dài lâm bệnh, hưởng thọ 91 tuổi.

Nhạc sỹ Tô Hải tên đầy đủ là Tô Đình Hải, sinh năm 1927, trước đó từng được biết đến là một nhạc sỹ đa phong cách, có nhiều sáng tác thuộc nhiều thể loại nhạc từ lãng mạn, tới nhạc giao hưởng, nhạc phim, nhạc k v.v..., nhưng nổi bật một thời là thể loại 'nhạc đỏ, nhạc cách mạng'.

Ông đã gây chú ý khi bắt đầu viết hồi ký và sau đó là viết blog liên tục trên dưới hai chục năm trở lại đây, mà tác phẩm được nhiều người biết đến nhất là cuốn 'Hồi ký của một thằng hèn', trong đó, ông bộc lộ thái độ được cho là phản tỉnh, chỉ trích chính 'lựa chọn sai đường' của bản thân, nhận mình là một 'thằng hèn', 'một kẻ cơ hội', ca ngợi 'đảng và chế độ' để sống sót.

Từ Texas, Hoa Kỳ, gửi cho BBC Tiếng Việt những dòng cảm tưởng vĩnh biệt nhạc sĩ Tô Hải, gọi nhà bất đồng chính kiến vừa ra đi là 'con người trung trực', nhà thơ Hoàng Hưng viết:

Đến cuối đời, trước thực tế đất nước và nhờ Internet, ông đã có bước chuyển đột ngột về tư tưởng. Nó đã âm thầm trong nhiều năm, và bùng ra công khai khi ông từ bỏ ĐCS và công bố cuốn "Hồi ký của một thằng hèn" mà ông chủ động gửi in ở Mỹ năm 2007. Đó là những hành động thật dũng cảm vào thời điểm ấy. Nhà thơ Hoàng Hưng

"Tôi có quen biết nhạc sĩ Tô Hải và theo dõi các bước đường sáng tác âm nhạc cũng như chuyển biến tư tưởng của ông. Ông là một nhân vật khá tiểu biểu cho những trí thức, văn nghệ sĩ trong giới "tiểu tư sản thành thị" có lòng yêu nước, trung thực và tự trọng trong lịch sử VN hiện đại.

"Do yêu nước mà hăm hở đi theo Việt Minh, vì chỉ biết Việt Minh đánh Tây giành độc lập, rồi tiếp tục hăng hái phục vụ công cuộc "đấu tranh giải phóng miền Nam" cũng vì bị bưng bít thông tin, cho miền Bắc là chính nghĩa vì độc lập thống nhất quốc gia.

"Các ca khúc của ông, từ một "Nụ cười sơn cước" lãng mạn trước 1945 đến những bài kháng chiến vui tếu "trường lục quân đang cần lính đanh Tây", "nhà sư giết giặc"… và đỉnh cao là "Tiếng hát người chiến sĩ biên phòng", thể hiện bước chuyển lớn từ anh chàng "tạch tạch xè" mơ màng mây gió qua người chiến sĩ "lạc quan cách mạng" vô tư lự.

"Cả đến sau Đổi mới những năm 1980, 1990, mặc dù bản thân là một nhạc sĩ hiếm hoi thông thạo ngoại ngữ, biết nhiều thông tin thế giới, ông vẫn viết hàng loạt bài chê trách nền âm nhạc thị trường thoát khỏi truyền thống "yêu nước, cách mạng".



Cố Nhạc sỹ Tô Hải là một trong các bloggers cao niên bậc nhất ở Việt Nam khi ông hoạt động viết blog trên mạng xã hội nhiều năm trước. DAN LAM BAO

'Bước chuyển đột ngột'

Gọi những chuyển biến về tư tưởng của nhạc sỹ Tô Hải là 'bước chuyển đột ngột', nhà thơ Hoàng Hưng, thành viên sáng lập Ban vận động thành lập Văn đoàn độc lập Việt Nam và thành viên sáng lập Tạp chí văn nghệ mạng Văn Việt, viết tiếp qua bút đàm gửi BBC Tiếng Việt cùng ngày.

"Nhưng đến cuối đời, trước thực tế đất nước và nhờ Internet, ông đã có bước chuyển đột ngột về tư tưởng. Nó đã âm thầm trong nhiều năm, và bùng ra công khai khi ông từ bỏ đảng cộng sản và công bố cuốn "Hồi ký của một thằng hèn" mà ông chủ động gửi in ở Mỹ năm 2007. Đó là những hành động thật dũng cảm vào thời điểm ấy.

Trường hợp Tô Hải khiến tôi vững tin và hy vọng: ngày càng nhiều người trong hàng ngũ Cộng sản Việt Nam "giác ngộ" sự thật, dũng cảm với chính mình để dũng cảm tham gia chuyển hoá đất nước, xã hội theo con đường văn minh tiến bộ. Nhà thơ Hoàng Hưng

"Ông đã mở con đường công khai từ bỏ đảng cho nhiều người, mở đường công bố bản thảo ở nước ngoài cho nhiều cây bút "phản tỉnh", như Trần Đĩnh, Lê Phú Khải… Và từ đó, cái tên "nhát sĩ" Tô Hải đã nổi bật trên không gian mạng với hàng loạt bài viết sắc bén, có lửa, có thép, tố cáo, phê phán, phản biện rất kịp thời và hấp dẫn bởi lối viết có kiến thức, có tâm huyết, có trải nghiệm bản thân.

"Cũng không ít người theo Cộng sản rồi từ bỏ, nhưng Tô Hải ở trong số ít người không bị "phía bên kia" moi móc chê trách quá khứ. Một lý do là ở thái độ quyết liệt, rõ ràng, tự nhận sai lầm một cách dứt khoát, không biện bạch.

"Thái độ mà ông minh bạch ngay trong lời tựa cuốn hồi ký: "Tôi cũng mong sao mỗi người trong các văn nghệ sĩ sắp giã từ cõi đời nhầy nhụa này hãy để lại một "bản di chúc" nói lên Sự Thật, dù chỉ là 1/1000 Sự Thật, để tạ tội với đồng bào, về những gì mình đã vì miếng cơm manh áo, vì yếu hèn mà phải cúi đầu làm thân trâu ngựa".

"Dũng cảm với chính mình là khó nhất, và cần có trước tiên để có thể dũng cảm đấu tranh với bất công, sai trái trong đời!

"Trường hợp Tô Hải khiến tôi vững tin và hy vọng: ngày càng nhiều người trong hàng ngũ Cộng sản Việt Nam "giác ngộ" sự thật, dũng cảm với chính mình để dũng cảm tham gia chuyển hoá đất nước, xã hội theo con đường văn minh tiến bộ.



Nhạc sỹ Tô Hải thời khoác áo 'bộ đội' ở miền Bắc. FACEBOOK

"Kính trọng nhạc sĩ Tô Hải. Vĩnh biệt ông. Tin là ông đã nhắm mắt an lành như một con người trung trực, không "ăn gian" cuộc đời!"

'Vận nước, không ngồi yên'

Từ Sài Gòn, trong một bài viết gửi cho BBC Tiếng Việt, nhà văn Lê Phú Khải, chia sẻ về nhạc sỹ Tô Hải:

"Công bằng mà nói, với những huân chương mà ông đã được nhận, với giải thưởng về Văn học nghệ thuật đợt 1, ông có thể ngồi rung đùi mà nhận bổng lộc, đến các hộị nghị, kỷ niệm này nọ mà ngồi ghế danh dự trong làng nhạc sỹ Việt nam mà nhận bao thư. Và … ngậm miệng ăn tiền dài dài … như các nghệ sỹ lão thành khác!

"Nhưng vận nước không để ông ngồi yên. Ông nghĩ đến con cháu, nghĩ đến thế hệ mai sau sẽ sống ra sao nếu Trung Quốc 'gặm dần' đất nước mà ông bà đã tốn bao nhiêu xương máu để gìn giữ nó đến hôm nay.

"Ông tâm sự: Từ ngày tôi viết blog, mấy thằng nhạc sỹ xưa kia nó vô Sài Gòn là nhào đến nhà tôi… Vậy mà khi thấy tôi viết trên mạng, nó lỉnh, nó sợ liên lụy, giới nhà văn của ông còn đỡ chứ giới nhạc cùng thời với tôi chúng nó hèn quá! Tôi an ủi ông: Những kẻ ngậm miệng ăn tiền ấy có gì đáng nói, bù lại, hiện anh có hàng vạn bạn đọc trên thế giới, đó chẳng phải là đáng vui hay sao?

Công bằng mà nói, với những huân chương mà ông đã được nhận, với giải thưởng về Văn học nghệ thuật đợt 1, ông có thể ngồi rung đùi mà nhận bổng lộc, đến các hộị nghị, kỷ niệm này nọ mà ngồi ghế danh dự trong làng nhạc sỹ Việt nam mà nhận bao thư. Và … ngậm miệng ăn tiền dài dài … như các nghệ sỹ lão thành khác! Nhà báo Lê Phú Khải

"Là người bất đồng chính kiến nên công an đã đến "hỏi thăm" cái xe bán bánh mỳ của vợ ông ở đầu phố, công an và chính quyền phường đã đến tận nhà "khuyên giải" ông không viết blog nữa!

"Viết đến đây tôi bỗng nhớ đến năm 1991, tại hội trường Matxcơva, tôi đứng giữa những người già, rất già, râu tóc bạc phơ đang cầm biểu ngữ đứng biểu tình trong tuyết giá…

"Một người Việt Nam nói với tôi lúc đó: Những người già như thế này đi biểu tình không phải như sinh viên Nam Triều Tiên, Singapore đi biểu tình đòi hỏi một cái gì cụ thể cho ngày hôm sau đâu. Mà họ vì trách nhiệm của lương tâm, vì một tương lai, vì một cái gì cao cả hơn đối với đất nước.

"Những gì mà nhạc sỹ Tô Hải đã và đang làm chính vì "những điều cao cả hơn đối với đất nước" Việt Nam yêu quý của ông.

"Hôm nay, người nhạc sỹ đã viết hợp xướng giao hưởng "Tiếng hát người chiến sỹ biên thùy"… đã ra đi.

"Ông có thể ngậm cười nơi chín suối vì cái ngày 16/12/2007 ở tuổi 80, ông đã chống ba-toong đi biểu tình chống Trung Quốc xâm lược biển đảo Việt Nam, thì hôm nay ở tuổi 91, ông có thể yên lòng vì hàng chục nghìn đồng bào đã xuống đường theo gót ông năm xưa trên khắp miền đất nước, hô vang những khẩu hiệu yêu nước…"


"Quê hương yêu dấu bao người chờ mong" trong bài " Tiếng hát người chiến sỹ biên thùy" của ông vẫn còn đó… để tiễn ông về nơi an nghỉ," nhà báo Lê Phú Khải, tác giả của cuốn hồi ký 'Lời Ai Điếu' viết.

'Bi kịch lớn nhất'

Từ Paris, nhà báo tự do, cựu đạo diễn truyền hình Trần Tiến Đức viết cho BBC:

"Thời kháng chiến 9 năm, nay người ta còn gọi là Chiến tranh Đông dương lần thứ nhất, trong rừng Việt Bắc, tôi thường được nghe những ca khúc trữ tình rất hay như Suối Mơ, Thiên Thai, Trương Chi, Buồn tàn thu, Đêm đông, Tiếng hát quay tơ, Anh đến thăm em một chiều mưa; và cả bài Nụ cười Sơn cước của nhạc sỹ Tô Hải.

"Sau này ông còn là tác giả của Tổ khúc "Tiếng hát người chiến sĩ biên thuỳ" - một tác phẩm đồ sộ của nền âm nhạc Việt nam, đánh dấu một bước trưởng thành trong sự nghiệp sáng tác của nhạc sỹ Tô Hải.

"Rất tiếc là sau này tôi không được nghe những sáng tác mới của ông. Mãi sau này qua cuốn "Nhật ký một thằng hèn" tôi mới được hiểu thêm về ông, về con người ông.

Tôi thì nghĩ rằng cái thể chế này đã bắt ông và nhiều đồng nghiệp phải sống hèn. Nhưng với những gì ông đã làm thì nhạc sĩ Tô Hải đã chết như một người anh hùng, một người tử tế rất đáng kính trọng. Nhà báo, đạo diễn Trần Tiến Đức

"Đúng là ông và nhiều văn nghệ sĩ cùng thời với ông phải chịu sống hèn để có thể tồn tại, phải viết những gì mình không nghĩ, phải nói những gì mình không tin. Tôi nghĩ rằng đó chính là bi kịch lớn nhất của họ.

"Nhưng khác với nhiều người, nhạc sĩ Tô Hải dám nhận mình là hèn, và viết lên những gì ông cho là hèn. Tôi nghĩ rằng phải dũng cảm như thế nào mới dám công khai nhận mình là hèn.

"Tôi thì nghĩ rằng cái thể chế này đã bắt ông và nhiều đồng nghiệp phải sống hèn. Nhưng với những gì ông đã làm thì nhạc sĩ Tô Hải đã chết như một người anh hùng, một người tử tế rất đáng kính trọng

"Từ Paris, xin thắp một nén nhang cầu mong cho ông được hưởng mọi niềm sung sướng ở cõi vĩnh hằng!," nhà báo Trần Tiến Đức chia sẻ.



Bìa của tác phẩm được nhạc sỹ Tô Hải tự gửi đi Mỹ xuất bản năm 2007. FACEBOOK

Từ Sài Gòn, nhà hoạt động xã hội dân sự, cựu tù nhân lương tâm Nguyễn Tiến Trung viết cho BBC:

"Tôi biết cụ Tô Hải ngay từ những ngày đầu tiên từ Pháp về Việt Nam vào năm 2007 qua sự giới thiệu của anh Nguyễn Văn Hải (tức blogger Điếu Cày). Rồi sau khi tôi ra tù vào ngày 12/4/2014, cụ Tô Hải cũng lại là một trong những người đầu tiên đến thăm tôi, dù lúc này cụ đã phải ngồi xe lăn.

"Thỉnh thoảng tôi lại đi qua chung cư Rạch Miễu thăm cụ và cô Lâm Ái. Cụ kể chuyện cho tôi rất nhiều về thời thanh niên theo đảng cộng sản của cụ. Tuy nhiên, điều ấn tượng nhất đối với tôi là cụ Tô Hải thực sự là một trí thức.

"Khi nhận ra sự thực về đảng cộng sản không phải là một đảng đấu tranh cho tự do của người dân Việt Nam mà đã biến chất thành một đảng toàn trị kìm hãm tự do, cụ đã quyết liệt phủ nhận quá khứ của mình, thậm chí tự gọi mình là "một thằng hèn".

'Người yêu nước chân chính'

Tô Hải là một người yêu nước chân chính. Và tôi nghĩ đó là một điều tuyệt vời nhất mà cụ muốn nghe tôi nói về cụ. Thạc sỹ Nguyễn Tiến Trung

Và Thạc sỹ Nguyễn Tiến Trung chia sẻ thêm về người nhạc sỹ lão thành vừa qua đời ở Sài Gòn:

"Tôi còn nhớ rõ cụ Tô Hải tuyên bố với tôi là những sáng tác của cụ để phục vụ cho sự tuyên truyền của đảng cộng sản nhằm 'lừa mị nhân dân' đều đáng vứt vào sọt rác. Những lần gặp cụ, dù sức yếu, nhưng tôi thấy cụ luôn cố gắng viết phê phán chế độ độc tài và ủng hộ dân chủ.

"Cụ cũng thúc giục tôi phải viết nhiều và hành động. Tôi thật sự kính trọng cụ. Cụ Tô Hải là một người yêu nước chân chính. Và tôi nghĩ đó là một điều tuyệt vời nhất mà cụ muốn nghe tôi nói về cụ. Xin vĩnh biệt cụ và cầu mong cụ yên nghỉ!"

Một nhà hoạt động xã hội dân sự khác cũng từng gặp mặt cố nhạc sỹ Tô Hải lúc sinh thời, kỹ sư Nguyễn Lân Thắng chia sẻ với BBC Tiếng Việt:

"Tôi gặp cụ Tô Hải lần đầu tiên vào đầu năm 2012. Đó là thời điểm khi tôi vừa mới trải qua cả một mùa hè biểu tình chống Trung Quốc rực lửa năm 2011 ở Hà Nội. Tuy chưa từng gặp nhau, nhưng tôi nhớ như in cuộc gặp ấy cụ đã ôm chầm lấy tôi như một đứa con đi xa trở về.

"Có chuyện đó là bởi vì tuy tôi là thế hệ trẻ, nhưng đã biết cụ rất lâu qua các bài viết trên Blog, Facebook... còn cụ thì biết đến tôi vì những tấm hình biểu tình nóng hổi tôi chụp hồi đó. Cụ Tô Hải trong mắt anh em đấu tranh trẻ ở Việt Nam là một tượng đài vĩ đại.



Kỹ sư Nguyễn Lân Thắng đến thăm nhạc sỹ lão thành Tô Hải tại Sài Gòn. FB NGUYỄN LÂN THẮNG

"Không chỉ là những bức hình, những đoạn phim ghi lại cảnh một ông già bé nhỏ kiên cường chống gậy đi biểu tình giữa đường phố, cụ Tô Hải đã đi vào lòng người trẻ chúng tôi bằng những bài viết sắc sảo lật mặt chế độ cộng sản trên trang blog của cụ, bằng cuốn "Hồi ký của một thằng hèn" chấn động dư luận một thời.

"Hôm nay, nhạc sỹ Tô Hải, người tự nhận là MỘT THẰNG HÈN đã ra đi rời bỏ thế gian, nhưng với tôi hình ảnh cụ sẽ còn sống mãi. Chính cụ là một trong những người đã trực tiếp tác động làm lớp trẻ chúng tôi sống thôi hèn, dám đứng lên xuống đường đòi hỏi những điều thuộc về dân tộc này.

"Xin vĩnh biệt cụ, MỘT THẰNG HÈN VĨ ĐẠI!"

Ngày 11/8/2018 chứng kiến sự ra đi của hai nhà bất đồng chính kiến của Việt Nam cùng hưởng thọ 91 tuổi, đó là nhạc sỹ Tô Hải ở trong nước và nhà báo Bùi Tín ở Pháp, từ Leeds, Anh Quốc, cựu đạo diễn truy hình, nhà báo tự do và blogger Song Chi chia sẻ cảm tưởng với BBC:

Cho dù chưa kịp nhìn thấy ngày đất nước Việt Nam thực sự có dân chủ, nhân dân Việt Nam thực sự có tự do, nhưng tin rằng hai ông sẽ thanh thản ra đi. Việc của các ông đang và sẽ có những người khác nối tiếp. Nhà báo, đạo diễn Song Chi

"Trong một ngày hai tin buồn: nhà báo Bùi Tín qua đời ở Paris và nhạc sĩ Tô Hải ra đi tại Việt Nam. Cả hai đều là những người sinh ra, lớn lên, trưởng thành trong lòng chế độ cộng sản, là người có công với chế độ, nhưng đều nhận ra bản chất thực sự của đảng và nhà nước cộng sản VN và cái chủ nghĩa, cái mô hình thể chế chính trị sai lầm này, nên đã thức tỉnh và trở thành những tiếng nói mạnh mẽ tố cáo chế độ."

'Người nhạc sỹ của dân'

Cựu đạo diễn truyền hình nhân dịp này nói thêm về tính tương đồng giữa hai nhà bất đồng chính kiến vừa qua đời:

"Nhờ mọi người chia sẻ trên facebook mà tôi mới biết cả hai ông cùng sinh năm 1927, cùng có nhiều điểm chung như đã nói ở trên và bây giờ, lại cùng ra đi một ngày.

"Không như với cố nhà báo Bùi Tín, tôi chưa có may mắn gặp được cố nhạc sĩ Tô Hải ngoài đời, nhưng vẫn thường xuyên theo dõi những tin tức, bài viết, cũng như đã đọc cuốn "Hồi ký của một thằng hèn" của ông.

"Cuốn hồi ký thu hút người đọc không phải ở khía cạnh văn chương, nhạc sĩ Tô Hải không phải là một nhà văn, nhưng ở giá trị của những hồi ức, những tâm tư, suy nghĩ của một con người nhận ra sự mông muội, ngây thơ, sai lầm của mình, rằng con đường mình đang đi và cùa hàng chục triệu người đang đi này là sai lầm, là phản tiến bộ, là tội ác.

"Giữa những tháng năm mà đa phần giới làm báo, làm văn hóa văn nghệ còn chưa nhận ra sự thật hoặc sử dụng ngòi bút, cây cọ, tiếng hát…để bợ đỡ nhà cầm quyền, tiếp tục tuyên truyền dối trá, bóp méo sự thật để được đảng và nhà nước cộng sản tin dùng, được hưởng mọi bổng lộc (và cho đến tận bây giờ vẫn có những người như vậy) thì nhạc sĩ Tô Hải đã sớm thức tỉnh. "

"Sự nhạy cảm của một văn nghệ sĩ, nhạc sĩ càng khiến cho nỗi đau, sự day dứt trong lòng ông thêm nặng nề. Có thể cảm được nỗi đau đó qua từng trang viết trong cuốn "Hồi ký của một thằng hèn".

"Cũng có những người thuộc giới trí thức, văn nghệ sĩ cộng sản nhận ra và thức tỉnh, nhưng không phải ai cũng thức tỉnh một cách dứt khoát, quyết liệt và can đảm thừa nhận sự lầm lạc của mình như nhạc sĩ Tô Hải. Hay nhà báo Bùi Tín.

"Để rồi kể từ đó ông trở thành người nhạc sĩ của nhân dân, cùng xuống đường tham gia biểu tình chống Trung quốc với thanh niên, sinh viên, tuổi cao nhưng vẫn là một blogger "trẻ" từ trong tâm, hăng say viết và được bao nhiêu người trẻ tuổi yêu mến, ngược lại cũng nhận không ít phiền hà, sách nhiễu từ phía nhà cầm quyền.

"Cuộc đời vốn ngắn ngủi và mỗi chúng ta chỉ sống có một đời. Có những người khi sống hưởng mọi bổng lộc phú quý, quyền lực hay danh tiếng, thậm chí được tung hô như thánh sống. Có những "nhà báo", người làm nhạc… được xưng tụng, tác phẩm được nhà cầm quyền đưa vào sách giáo khoa tuyên truyền suốt bao nhiêu năm."

"Nhưng chẳng bao lâu khi họ chưa kịp nằm xuống thì những gì họ đã viết không ai còn nhớ tới, dư luận khinh ghét và một ngày nào đó khi lịch sử được viết lại một cách rõ ràng, minh bạch thì con người cũng như tác phẩm của họ sẽ bị đánh giá lại một cách công bằng. Không ai có thể rũ bỏ được những gì mình đã làm, đã viết, nhất là trong thời đại này.

Bùi Tín, Tô Hải, dù các ông sống hay chết ở đâu, dẫu có bị giày xéo thế nào thì, bằng sự thức tỉnh của họ, bằng lương tâm và trách nhiệm của họ đối với đồng bào Việt Nam mà họ đã làm, cố hết sức mình, vượt cả bệnh tật và tuổi tác, sẽ không một sự bôi nhọ nào xúc phạm đến họ được. Nhà văn, nhà báo Võ Thị Hảo

'Đến hơi thở cuối cùng'

Và cựu đạo diễn Song Chi viết thêm: "Cố nhà báo Bùi Tín hay cố nhạc sĩ Tô Hải đã đã sống những cuộc đời không uổng phí khi dùng chính số phận của mình, và sử dụng vốn sống, kinh nghiệm, kiến thức, ngôn ngữ… để nói lên sự thật, tố cáo chế độ, góp phần thức tỉnh giới trẻ.

"Cho dù chưa kịp nhìn thấy ngày đất nước Việt Nam thực sự có dân chủ, nhân dân Việt Nam thực sự có tự do, nhưng tin rằng hai ông sẽ thanh thản ra đi. Việc của các ông đang và sẽ có những người khác nối tiếp," nhà báo, đạo diễn Song Chi viết.

Cũng hôm 11/8, từ Berlin, CHLB Đức, nhà văn, nhà báo Võ Thị Hảo chia sẻ với BBC Tiếng Việt trong một ngày chứng kiến sự ra đi của hai nhà bất đồng chính kiến, bà viết:

"Bùi Tín, Tô Hải, dù các ông sống hay chết ở đâu, dẫu có bị giày xéo thế nào thì, bằng sự thức tỉnh của họ, bằng lương tâm và trách nhiệm của họ đối với đồng bào Việt Nam mà họ đã làm, cố hết sức mình, vượt cả bệnh tật và tuổi tác, sẽ không một sự bôi nhọ nào xúc phạm đến họ được.

"Hai con người ấy, vì đã hành động theo lương tri, bằng những tác phẩm của họ, sẽ còn trường tồn với thời gian và càng ngày sẽ càng có nhiều người Việt Nam thương yêu và tạ ơn họ.




Nhạc phẩm 'Nụ cười Sơn cước' là một trong những tác phẩm để đời của nhạc sỹ Tô Hải. FACEBOOK

"Con người rút ruột nhả những dòng tơ dâng cho đời ấy đã dùng cảm chiến đấu với nỗi sợ hãi và viết cho đến những năm tháng bệnh tật cuối đời, dù phải nằm trên giường mà viết và viết giữa những cơn đau.

"Đáng kính thay, con người đã dám thừa nhận cái hèn của mình và lên tiếng vì "Tôi đã hết hèn, Không thể chết trong im lặng, Cuộc đời tủi nhục của tên bồi bút, 5 năm đóng kịch và dối trá..."(Tên một số chương trong "Hồi ký một thằng Hèn- Tô Hải).

"Hôm nay, ngày lớn ngày chia phôi. Người Việt Nam yêu nước, yêu sự thật và công lý sẽ còn nhớ mãi đến nhà báo- nhà văn Bùi Tín và nhạc sĩ Tô Hải trong những giai điệu đẹp.

"Nỗi tiếc thương thật lớn. Nhưng giai điệu dịu dàng và ủi an. Vì họ đã đến cuộc đời này, đã sống hết thiên mệnh và đã chiến đấu cho sự thật đến hơi thở cuối cùng.

"Cỏ cây hoa lá, thương nhớ mãi người đi/và dâng sầu lên mi mắt người về.../Ai về sau dãy núi Kim Bôi, /nhắn rằng tim tôi chưa phai mờ...

"Người ơi, tôi đã rút tơ lòng/Dệt mấy cung yêu thương/Gửi lòng trong trắng/Của mấy bông hoa rừng/Đời đời không tàn với khúc nhạc lòng tôi,"

như những gì Tô Hải đã viết trong "Nụ cười sơn cước", ca khúc trữ tình tuyệt vời mà ông để lại cho muôn đời sau.

Nguồn: https://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-45156022
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gởi tin nhắn Gởi email
Tre xanh



Ngày tham gia: 05 3 2008
Bài gởi: 10008

Bài gởiGởi bởi: CN 9 02, 2018 9:27 pm    Tiêu đề:

Khúc Nhạc Dưới Trăng - Dương Thiệu Tước

Mai Hương là giọng hát thể hiện rất thành công nhiều ca khúc tiền chiến. Tuy ít xuất hiện trước khán giả nhưng không vì vậy mà người hâm mộ quên được chất giọng độc đáo của cô trong những ca khúc trữ tình trước 1975: Lỡ Chuyến Đò, Bến Nước Tình Yêu, Ước Hẹn Chiều Thu, Bến Xuân Xanh, Chiều...











Dương Thiệu Tước, mạch tương lai láng chờ phím ngân trùng (trích)

Quỳnh Giao




Trong một dịp bình nghị về nhạc, Phạm Duy đã phát biểu, rằng vào đầu thập niên 40 khi Văn Cao và Phạm Duy còn viết nhạc với âm thanh chuỗi như trong Cung Đàn Xưa hay Khối Tình Trương Chi, thì người đó đã tài tình hòa cả thất cung lẫn ngũ cung trong một khúc tình ca diễm tuyệt. Người mà Phạm Duy nhắc tới đó, chính là Dương Thiệu Tước.

Khúc hát làm Phạm Duy cảm phục mãi tới giờ chính là Trời Xanh Thẳm, mà Dương Thiệu Tước đã viết từ năm 1939. Và Phạm Duy nhớ bài ca vô cùng, vì do nghe Thái Hằng ngây ngất với Trời Xanh Thẳm mà ông đã bị cú sét ái tình... và Thái Hằng trở thành bà Phạm Duy từ đó...
Đối với nhiều nhạc sĩ ở tuổi thất tuần hiện nay, Dương Thiệu Tước là một người đàn anh đáng yêu, không chỉ vì tuổi đời hay tuổi nghề, mà còn vì tài nghệ xuất chúng và cung cách phong nhã khác thường.
Sinh quán ở Vân Đình, Hà Đông, nay là tỉnh Hà Tây, Dương Thiệu Tước là người dòng dõi nho học và quyền quý. Ông nội ông là Dương Khuê hay em ruột ông nội là Dương Lâm đều là danh sĩ và làm quan tới chức thượng thư của triều Nguyễn. Cụ thân sinh là Dương Tự Nhu thì đã làm bố chính Hưng Yên. Nhưng Dương Thiệu Tước lại chẳng chọn đường khoa cử và lánh xa hoạn lộ, để rồi thành một trong những người mở đường cho tân nhạc.
Sau một đời yêu và sống với nhạc và đào tạo bao thế hệ nhạc sĩ, ông đã lánh đục về trong, để lặng lẽ từ biệt chúng ta một năm sau tuổi bát tuần, vào mùa Thu 95 tại Sài Gòn.
Nói rằng ông dành một đời để yêu và sống với âm nhạc là không quá, vì ông mở tiệm bán và sửa đàn, mở lớp dạy nhạc dạy đàn, và là bậc thầy của nhiều thế hệ về Hạ uy cầm và Tây ban cầm. Ông liên tục dạy Tây ban cầm tại trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ Sài Gòn từ thập niên 60 cho tới những năm sau 75. Rất giỏi về nhạc lý và nhạc khí Đông Tây, ông được bằng hữu và học trò quý mến vì phong thái khiêm cung ôn tồn mỗi khi luận bàn hoặc chỉ dẫn về nhạc thuật và sáng tác...
Khi nói đến Văn Cao rồi nhạc thuật Dương Thiệu Tước, ta cần nhớ tới vài quy tắc viết ca khúc.
Chẳng hạn như một bài hát nói có một số quy ước về thể thức, với mưỡu đầu hay mưỡu hậu, đủ khổ hay dôi khổ, hay câu gối hạc... thì ca khúc cũng có phần mở đầu, có nhiều chuyển đoạn dẫn tới điệp khúc và trở về chuyển đoạn để chấm dứt với phần coda. Nhiều người đã không viết như vậy, cho nên như ở Buồn Tàn Thu của Văn Cao hay Tạ Từ của Tô Vũ, ta có thể chấm dứt hoặc hát tiếp ở bất cứ đoạn nào.
So sánh, Dương Thiệu Tước mô phạm và có căn bản về nhạc lý cả Đông lẫn Tây nên tôn trọng nhạc thuật ở mức cao nhất, và các sáng tác của ông đều có thể là mẫu mực về kỹ thuật viết nhạc cho nhiều thế hệ sau...
Nói về di sản âm nhạc Dương Thiệu Tước, ta sẽ nói về nửa thế kỷ tân nhạc vì ông sáng tác rất nhiều, ở đủ mọi thể loại và bài nào cũng xuất sắc đáng ghi. Quỳnh Giao chỉ xin giới thiệu về nhạc trữ tình của ông, vì ông là người viết nhạc tình quý phái và trang nhã nhất của chúng ta.
Ông đã thấm nhuần phong hóa cổ truyền, với đủ nét cầm thi Á Đông, lại được học guitar và nhạc lý với một giáo sư Pháp từ nhỏ, nên sáng tác của ông đều cao nhã với âm điệu Tây phương mà uẩn súc trong nỗi rung động Đông phương. Đằm thắm mà không suồng sã, và dù là kén người hát người nghe, nhạc tình của ông sẽ tồn tại với thời gian vì càng nghe ta sẽ càng yêu quý.
Ca khúc nổi tiếng nhất của ông chẳng hạn, bài Đêm Tàn Bến Ngự, có lẽ tiêu biểu cho nghệ thuật Dương Thiệu Tước trong các cung bậc cổ truyền để diễn tả hình ảnh đậm nét dân tộc, còn hơn hẳn bao nhạc sĩ thường viết về dân ca cải biên. Sinh tại miền Bắc, ông là tác giả của bài ca bất hủ và u uẩn nhất về non nước hương bình.
Một ca khúc thứ hai có âm hưởng dân nhạc là bài Tiếng Xưa, với hình tượng của Đường thi trong làn điệu của dân ca miền Nam. Phải yêu và hiểu nhạc Việt tới chỗ sâu sắc mới viết nên ca khúc như vậy, mà nếu chỉ căn cứ vào lời từ cổ kính với cung đàn nhỏ lệ Tầm Dương, phím loan vương tình... ít khi ta nhớ tới sông nước Cửu Long...
Ấy vậy, cũng Dương Thiệu Tước khi sử dụng tiết điệu Tây phương, lại cho ta nhiều nhạc khúc có âm hưởng Âu Châu cổ điển và cả hiện đại, như bài Bến Xuân Xanh lôi cuốn với nhịp 3/4 của một bài luân vũ bên thành Vienne, hoặc rộn ràng nhịp Tango habanera với Bóng Chiều Xưa, và rực rỡ âm sắc La Tinh với Khúc Nhạc Dưới Trăng hay Hội Hoa Đăng.
Trừ mấy bài như Chiều phổ thơ Hồ Dzếnh, hay Bóng Chiều Xưa có lời từ của Minh Trang, các ca khúc Dương Thiệu Tước dù viết trên cung bậc Tây phương cổ điển hay hiện đại đều có lời từ thuần nhã của một người thấm đậm văn hóa Việt. Chúng ta thấy rõ điều đó ở các tuyệt tác như Áng Mây Chiều, Phút Say Hương, Sóng Lòng, Mơ Tiên, Đêm Ngắn Tình Dài, Kiếp Hoa hay Thuyền Mơ... với lời ca cổ kính, cứ tưởng như ước lệ mà lại gợi ra hình ảnh mới, chan hòa màu sắc và ánh sáng mới.
Ở Dương Thiệu Tước, nhạc là màu sắc và vũ điệu, và thanh âm là thơ, là tình.
Điều đáng tiếc cho ông, và cho cả chúng ta, các ca khúc Dương Thiệu Tước có chất bác học và đòi hỏi một trình độ nào đó về hòa âm và nghệ thuật diễn tả. Dương Thiệu Tước lại quá yêu nhạc để lưu ý tới quảng bá thương mại, cho nên các ca khúc của ông, vốn đã kén người nghe lại ít được thực hiện và phổ biến cho xứng đáng với giá trị của chúng.
Thuở sinh tiền, ông có thấy điều đó và thường mỉm cười trong sự tĩnh lặng của ông. Lòng ông như một phím tơ chỉ chờ rung lên dưới bàn tay nghệ thuật, mà ông lại lạnh tanh với tiếng vỗ tay và, như Duy Trác đã luận, "giữa sân khấu cuộc đời, Dương Thiệu Tước hoàn toàn đóng vai của người vắng mặt." Nơi ông, lòng yêu nghệ thuật đã quá lớn để ông quan tâm tới tên tuổi của ông hay người thưởng ngoạn.
Chúng ta càng yêu tài và nhớ ơn thì càng kính trọng ông trong sự im vắng của ông. Được sống với ông như người con gái trong những bước đầu bước vào âm nhạc cho tới 1975, Quỳnh Giao luôn luôn trân quý các ca khúc của ông, và thiết tha cầu mong là người Việt sau này sẽ không quên công lao rất lớn của ông cho tân nhạc, từ những năm khơi nguồn cho tới về sau này...
Trong các ca khúc viết về tình yêu, Dương Thiệu Tước ưa nhất bài Ngọc Lan. Đây là tác phẩm trang trọng quý phái nhất của các tình khúc nước ta, và cho thấy chiều cao nghệ thuật và chiều sâu văn hóa của tác giả. Ông họa chân dung người đẹp trong giấc Xuân, yêu kiều như đóa ngọc lan, rồi vẽ đóa thơm tỏa hương như một mỹ nhân, để rồi hoa với người hòa lẫn trong cung bậc đặt dìu, đài các mà không lả lơi, nồng nàn mà không suồng sã.
Ngần ấy hình ảnh đẹp như tranh cổ lại đan lượn trên cung bậc trang nhã của nhạc bán cổ điển Tây phương, để kết thúc mơ hồ như một giấc hư ảo...

(Nguồn: amnhac.fm)


Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gởi tin nhắn Gởi email
Tre xanh



Ngày tham gia: 05 3 2008
Bài gởi: 10008

Bài gởiGởi bởi: Bảy 9 15, 2018 9:56 pm    Tiêu đề:

Nhà Việt Nam
Nhạc: Thẩm Oánh
Tiếng hát: Quỳnh Giao, Kim Tước, Mai Ngọc Khánh & Quốc Anh













NHẠC SĨ THẨM OÁNH (1916-1996)
Lê Văn Phúc

(Nguồn : http://cothommagazine.com)

Lời nói đầu: Trong giới văn học nghệ thuật có thông lệ là mỗi khi nhắc đến tác giả nào, người ta thường chỉ gọi bằng tên hay bút hiệu. Đó là một sự quý trọng dành riêng cho người sáng tác chứ không lấy tuổi tác để đo mốc thời gian. Theo thông lệ đó, danh xưng trong bài này được gọi là “Nhạc sĩ Thẩm Oánh” hoặc “Thẩm Oánh”.

Phần sau, chúng tôi nói dến cuộc viếng thăm phu nhân của nhạc sĩ Thẩm Oánh. Năm nay cụ 85 tuổi, hiện cư ngụ tại Virginia. Cụ coi chúng tôi như em út nên xưng hô là “Chị”, “Em” trong khi đàm đạo.

Bài này, chúng tôi cũng tham khảo tài liệu qua các bài viết của nhà văn Biển Nhớ trên Web Đặc Trưng, nhà văn Trần Long Hồ (tức bác sĩ Trần Trúc Quang) và nhạc sĩ Nguyễn Hiền.

Phần quan trọng nữa là những bản nhạc từ thời xa xưa cùng một số tài liệu đã được nhạc sĩ Nguyễn Túc sưu tập cho mượn cũng như hướng dẫn tôi đến thăm cụ bà Thẩm Oánh.




MỘT ĐỜI CHO ÂM NHẠC

Nhạc sĩ Thẩm Oánh tên thực là Thẩm Ngọc Oánh, sinh năm 1916 tại Hà-Nội.

Học vỡ lòng với một thầy đồ tại nhà riêng. Thầy đồ này lại biết chơi đàn Tàu nên cậu bé Thẩm Ngọc Oánh mê nhạc ngay từ hồi lên 6 tuổi.

Được khoảng 4 năm thì thầy đồ trở về quê vì tình hình chiến sự.

Thẩm Oánh đã học âm nhạc qua một số sách viết bằng tiếng Pháp. Và khi học xong bậc trung học tại các trường Clémenceaux, Albert Sarraut và Puginier thì Thẩm Oánh bắt đầu dạy nhạc từ năm 1934, khi mới 18 tuổi.

Thẩm Oánh sáng tác hơn 1,000 bản nhạc nhưng những bản đắc ý nhất, được phổ biến rộng rãi nhất không quá vài chục bài.

Nhạc của Thẩm Oánh có thể tóm tắt trong 4 đề tài:

– Nhạc anh hùng ca
– Nhạc Phật giáo
– Nhạc nhi đồng
– Nhạc tình cảm

Ngoài các thể loại trên, Thẩm Oánh đã viết 3 vở nhạc kịch: Quán Giang Hồ, Bá Nha-Tử Kỳ, Đoàn Kết Là Sức Mạnh.

Nhạc sĩ Thẩm Oánh còn cộng tác với các tạp chí Việt Báo, Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Chủ bút nguyệt san Việt Nhạc; giữ các chức vụ Giám Đốc Đài phát thanh Hà-Nội, Trưởng Ban Việt Nhạc, Giám đốc trường Ca Vũ Nhạc Phổ Thông (thuộc Bộ Thông Tin và Thanh Niên), Phó Hội Trưởng Việt Nam Nhạc Hội, dạy nhạc và ngọai ngữ tại một số trường trung học.

Gia đình nhạc sĩ Thẩm Oánh sang Hoa Kỳ năm 1991.
Đến tháng Tư năm 1993, Nhóm Trưng Vương Vùng Hoa Thịnh Đốn tổ chức “Đại Nhạc Hội 60 năm Âm Nhạc Thẩm Oánh” đã phát hành tuyển tập “Nhớ Nhung” để vinh danh một nhạc sĩ đã tận tụy đóng góp cho nền tân nhạc Việt Nam và tri ân một giáo sư đã giảng dậy âm nhạc trong nhiều năm tại các trường Trưng Vương, Chu Văn An và Nguyễn Trãi. Đồng thời, cũng là để lưu lại cho các thế hệ sau một số tác phẩm giá trị của bậc tiền bối.

Bút tích duy nhất của Thẩm Oánh mà chúng tôi có được là lời tâm sự của nhạc sĩ viết trong tuyển tập này, với tựa đề “Nhớ Nhung”.

Xin được trích vài đoạn:

“…Tâm tình đa cảm mang lại Nhớ Nhung. Gặp nhau đâu thấy thoáng chút hương thơm quyện vào vành mũi, thấy mấy sợi tóc mây phơ phất tạt ngang mày, thấy một nụ cười duyên bén tình say, một nét thuần dịu vụng về lộ vẻ thơ ngây trong cử chỉ nhu hoà, duyên dáng… những ấn tượng ấy, bảng lảng nhớ nhung, nhớ nhung đến “ngợp trời”, nhớ nhung đến “gió trăng lạc lối”, và những sự “thấy” và “gặp” ấy kết thành ý nghĩ mung lung để viết ra một số bài.”

“…Đến “Việt Nam hùng tiến” thì thực là “bột phát”. Vỏn vẹn mươi người hát chưa vững, thế mà ít lâu sau cả vùng, cả đoàn hát lên để dựng cờ. Rồi phong trào đột khởi, lòng hăng say yêu nước đã thai nghén được thêm “Việt Nam hùng tiến”, “Non Nước Việt Nam”, “Nhà Việt Nam”, “Bài ca đoàn kết”, “Người Việt Nam xin đừng quên”, “Người trai Việt nhớ chăng?” có thể vô duyên lúc đương thời nhưng hữu sự về mai hậu… Kế tiếp lànhững chuyện tình xưa còn truyền khẩu lại cho tới ngày nay, giúp cho tình nghĩa vợ chồng thêm đằm thắm keo sơn, như “Vợ chồng Ngâu”, “Thiếu phụ Nam Xương”, “Nàng Bân”… Rồi những bài ca lịch sử từ “Hùng Vương” tới ”Bắc Bình Vương”, và “A Di Đà Phật”, “Trầm hoa hương ngát”, “Thập phương chúng sinh” cùng với những bài ca lịch sử trên còn tồn tại lâu dài.

“Số bài còn lại đã giấu giếm gần nửa thế kỷ, cuốn gọn vào một sọt giấy cũ nát, hầu như bỏ đi. Ném vào một góc tường mà mưa nắng đã làm ẩm ướt và mục nát, thì mười phần nay chỉ còn non một nửa. Xếp lại từng trang, đọc lại từng dòng, chấm lại từng nốt, mỗi bài một nhạc đề, mỗi dòng một kiểu cách, thoáng hiện nếp “ngũ cung” đa dạng, chuyển âm đột ngột, nhạc điệu ấy đã làm người nghe cảm xúc lúc ban đầu. Đã muốn bỏ quên và chôn vùi theo thời gian, thì lại gặp cố tri hằng mến nhau vì cảnh ngộ phũ phàng, những người bạn cũ đã lưu vong nơi vùng đất hứa này, gợi ý cho sống lại thuở đương thời cách biệt.

Nhạc tập này được ấn hành để đánh dấu một thời chìm nổi của cái ta vô vọng…”

CHÚNG TA BIẾT GÌ VỀ THẨM OÁNH?



Phải nói một cách thẳng thắn rằng: Hầu hết chúng ta không biết gì về người nhạc sĩ tài hoa này cả. Cái tên “Thẩm Oánh” thì ai cũng nhớ, một số nhạc phẩm của Thẩm Oánh thì ai cũng thuộc hoặc cũng đã nghe qua, nhưng hỏi về cuộc đời và sự nghiệp âm nhạc của Thẩm Oánh thì ít người biết một cách rõ ràng.
Phần vì Thẩm Oánh thuộc lớp nhạc sĩ lão thành, tiền phong trong tân nhạc nên phần đông người cùng trang lứa với nhạc sĩ nay đã ra người thiên cổ. Phần khác, Thẩm Oánh là người tính tình nghiêm nghị, khép kín, ít bạn cũng như ít tâm tình trò chuyện nên ngay cả những người trong nhà cũng không mấy ai được Thẩm Oánh chia sẻ.

Thế nên, tìm hiểu về Thẩm Oánh là điều rất khó. Nhạc của Thẩm Oánh lại không phải là loại nhạc để trình diễn, nên ít có ca sĩ nào dám hát nhạc Thẩm Oánh trong một đại nhạc hội. Nét nhạc Thẩm Oánh có một sắc thái, một phong thái riêng, có lẽ chỉ thích hợp với một vài lớp người thưởng ngoạn mà thôi.

May thay, chúng ta còn có được một nhân chứng, người trong cùng giới ca nhạc, rất có uy tín là nhạc sĩ Nguyễn Hiền, đã nhắc đến Thẩm Oánh trong một bài ngắn nhưng đầy đủ khi người nhạc sĩ tiên phong, đa tài này từ giã cõi đời ở tuổi 80.

Nguyễn Hiền viết:

“Tin nhạc sĩ Thẩm Oánh ra đi vĩnh viễn đối với chúng ta chỉ cách vài tháng sau cái chết của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước và Văn Cao đã là một mất mát lớn trong giới âm nhạc Việt Nam. Nếu lịch sử chỉ là sự tiếp nối giữa các thế hệ, thì nhũng lớp người đi trước luôn luôn cần được ghi nhận công lao xứng đáng với việc làm của họ qua những đóng góp không nhỏ cho âm nhạc nước nhà trong suốt cuộc đời đã qua.

Nói đến Thẩm Oánh, công lao ấy rất đáng kể nếu chúng ta quay về những năm ở giữa thập niên 30, khi âm nhạc Việt Nam vừa xuất hiện lác đác mới chỉ có vài bản nhạc. Lớp thanh niên lúc bấy giờ chỉ biết đến những bài ca Pháp thịnh hành do danh ca Tino Rossi trình bày qua đĩa nhựa phổ biến vào nước ta.
Chỉ nhớ là kỹ thuật điện ảnh lúc bấy giờ còn thô sơ với loại phim câm chưa có âm thanh đi kèm. Cho đến năm 1936 mới bắt đầu xuất hiện những cuốn phim có tiếng nói được quảng cáo ầm ĩ trên báo qua danh từ “Cinéma Parlant”, lôi cuốn lớp thanh niên Việt Nam thời đại.

Trong bối cảnh rất hạn chế ấy, nhạc sĩ Thẩm Oánh đã là người đi tiên phong, sáng tác nhạc với lời ca thuần túy Việt Nam.

Bản đầu tiên ông viết – nếu tôi không lầm – là bài “Có ai sang đò”, thanh niên thiếu nữ chuyền tay nhau chép lại tập hát ở nhà, vì hồi đó chưa có nhà xuất bản nào phát hành nhạc như sau này.

Ở Hà-Nội người ta biết đến tên ông cùng với Dương Thiệu Tước qua bản nhạc đầu tiên “Tâm hồn anh tìm em” như một cặp bài trùng xuất hiện trên sân khấu Nhà Hát Lớn những buổi trình diễn kịch nói rất hiếm hoi, có xen kẽ một vài bài nhạc Việt Nam.

Hình ảnh hai nhạc sĩ Thẩm Oánh và Dương Thiệu Tước bận đồ Smoking hay Spencer ra trước công chúng đã tượng trưng cho mẫu người thanh niên hào hoa thời đại ở thành phố ngàn năm văn vật trong phong trào tài hoa son trẻ giữa thập niên 30.

Ngoài việc đi tiên phong về viết nhạc Việt Nam, nhạc sĩ Thẩm Oánh còn là người đầu tiên đứng ra thành lập ban nhạc Tricéa qui tụ những tay đàn xuất sắc như Lê Yên tác giả “Nghệ sĩ hành khúc”, “Ngựa phi đường xa”, Lê Lôi, Dương Thiệu Tước, Vũ Khánh (anh ruột Vũ Thành), Nguyễn Văn Diệp (violon) và Nguyễn Văn Hiếu (piano).

Vì say mê âm nhạc, Thẩm Oánh đã chọn con đường nghệ thuật thay vì chạy theo khoa bảng như phần lớn thanh niên trong thời Pháp thuộc, chỉ đua nhau học hành mong kiếm được mảnh bằng và địa vị cao sang trong xã hội.

Ông đi vào nghiên cứu âm nhạc rất sớm cùng với Nguyễn Xuân Khoát, Dương Thiệu Tước, đặc biệt chú trọng vào hệ thống ngũ âm (Pentatonic System) của âm nhạc cổ truyền Việt Nam mà chúng ta thấy thể hiện luôn luôn qua nét nhạc ông viết.

Người viết còn nhớ rõ, Thẩm Oánh có biệt tài ăn nói khúc chiết, dịu dàng mỗi khi ông xuất hiện trước công chúng, đặc biệt dáng dấp trịnh trọng, nghiêm chỉnh làm tăng thêm giá trị của những buổi tổ chức thời tiền chiến.

Uy tín ông vang dội khắp nước và các nhân sĩ Nam Kỳ thời ấy đã mời ông vào Saigon diễn thuyết về đề tài “Âm Nhạc Việt Nam” bằng tiếng Pháp tại hội quán Samipic đường Galliéni (Trần Hưng Đạo sau này).

Xuất thân từ một gia đình thuộc danh gia vọng tộc Hà-Nội, ông sinh năm 1916 (năm Bính Thìn), suốt cuộc đời đã chỉ hoạt động say mê trong lĩnh vực âm nhạc và sau này trong ngành truyền thanh mà ông là một trong số những người đứng ra sáng lập đài phát thanh Hà-Nội tiếp thu từ tay người Pháp.

Ông cũng là người từng đứng ra cùng nhạc sĩ Nguyễn Văn Diệp tổ chức phòng trà Quán Nghệ Sĩ ở Bờ Hồ Hà-Nội, một trong những phong trào đầu tiên xuất hiện tại Hà-Nội năm 1945.

Ngoài ra, ông còn là giáo sư giảng dạy môn Pháp văn tại trường trung học Duvillier phố hàng Đẫy, Hà-Nội và môn âm nhạc cho nhiều trường học công lập, tư thục từ Hà-Nội vào đến Saigon trước năm 1975.

Là người tha thiết với đất nước dân tộc, Thẩm Oánh đã viết nhiều ca khúc để đời như “Việt Nam Hùng Tiến” được dùng làm đài hiệu cho đài phát thanh Hà-Nội và Saigon, “Nhà Việt Nam”, “Trưng Nữ Vương”, “Chu Văn An Hành Khúc”, “Thiếu Phụ Nam Xương”, v.v.

Mỗi dịp đón xuân, người ta không thể quên bản “Xuân Về” mang nhiều nét dân tộc ông viết năm 1939, đăng trong Ngày Nay số Xuân Kỷ Mùi do Tự Lực Văn Đoàn xuất bản.

Năm 1949, khi tiếp thu đài phát thanh Hà-Nội, ông thành lập ban Việt Nhạc qui tụ các ca nhạc sĩ thời đó như Minh Đỗ, Ngọc Bảo, Canh Thân, Quách Đàm, Nguyễn Thiện Tơ, Vũ Khánh, Vũ Thành, Nguyễn Trí Trường, Nguyễn Trần Du, Nguyễn Hách Hiển và Nguyễn Nghĩa.

Điểm đặc biệt ở Thẩm Oánh là ông khiêm tốn, hoà đồng với tất cả anh chị em trong giới âm nhạc và chẳng bao giờ thấy ông khoe khoang công việc ông làm.

Năm 1961, tôi được vinh dự thay ông trong nhiệm vụ Chủ Sự Phòng Văn Nghệ Nha Vô Tuyến Truyền Thanh Saigon. Trong buổi lễ bàn giao, trước đông đủ anh em trưởng ban văn nghệ, ông tỏ vẻ cảm động khi tôi ca ngợi những đóng góp của ông trong nền âm nhạc Việt Nam. Ông cám ơn lúc tôi nhắc đến ông là người đã sửa lại bài quốc ca của cả hai miền Nam Bắc, điều mà ít người biết.

Đúng như vậy, năm 1943 khi Lưu Hữu Phước viết bản “Tiếng Gọi Sinh Viên” (Marche des Etudiants) còn là sinh viên Nha Khoa ở Hà-Nội, đã đưa đến hỏi ý kiến nhạc sĩ Thẩm Oánh, Hội Trưởng Hội Khuyến Nhạc và ông đã đề nghị sửa chữa một vài chỗ.

Rồi năm 1945, cũng ở cương vị đứng đầu Hội Khuyến Nhạc, chính Thẩm Oánh đã đề nghị Văn Cao viết lại câu đầu trong nét nhạc “Tiến Quân Ca” cho tiết tấu hùng mạnh hơn, khác hẳn nguyên bản in qua thạch bản phổ biến từ chiến khu Việt Bắc.

Giai đoạn Thẩm Oánh sáng tác nhiều bản nhạc nhất phải nói là từ 1949 đến 1954, trong đó có “Nhớ Nhung”, “Toà Miếu Cổ”, “Bọt Bèo”, “Thiếu Phụ Nam Xương” do các ca sĩ Minh Đỗ và Ngọc Bảo thu thanh trên đĩa nhựa hãng Asia ở Saigon.

Sau 1975, tôi gặp ông có một lần duy nhất trong đám tang ông Vũ Quốc Thông ở Saigon.

Mới chỉ vài năm mọi người vui mừng đón nhận tin ông cùng phu nhân (nữ nhạc sĩ Tô Anh Đào) đã sang Hoa Kỳ sum họp gia đình. Ngờ đâu tin như sét đánh ngang tai, nhạc sĩ Thẩm Oánh đã vội ra đi ở tuổi bát tuần.
Xin hương hồn anh nhận nơi đây lòng thành kính và tiếc thương của một người đi sau trong giới âm nhạc Việt Nam.

Vĩnh biệt nhạc sĩ đàn anh Thẩm Oánh”.

Nguyễn Hiền


Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gởi tin nhắn Gởi email
Tre xanh



Ngày tham gia: 05 3 2008
Bài gởi: 10008

Bài gởiGởi bởi: Tư 11 07, 2018 8:19 pm    Tiêu đề:

Nén Hương Yêu - Sáng tác: Châu Kỳ & Duy Khánh

Trình bày: Hà Thanh (Pre 75)


https://www.youtube.com/watch?v=hky_Vm0GF68



Nhạc sĩ Châu Kỳ



Châu Kỳ là tên thật của nhạc sĩ Châu Kỳ. Ông sinh ngày 5 tháng 11 năm 1923 tại Dưỡng Mong, Thừa Thiên (Huế). Xuất thân từ một gia đình mà anh chị em đều sống với nền cổ ca Huế, Châu Kỳ có một số vốán âm nhạc cổ thật phong phú của miền Trung. Ưu điểm thứ hai là Châu Kỳ có dịp may được gặp một sư huynh nhạc sĩ đại tài hướng dẫn về nhạc lý và sáng tác là sư huynh Pétrus Thiều nên Châu Kỳ tiến triển rất nhanh trong chiều hướng sáng tác và âm hưởng cổ nhạc miền Trung được thấy đây đó qua những ca khúc như "Khúc ly ca", "Từ giã kinh thành", "Mưa rơi" (Lời Ưng Lang), "Khi ánh trăng vàng lên khơi" v.v...
Là một cậu học sinh bé nhỏ Châu Kỳ của trường Tiểu học Dưỡng Mong rồi sau đó lên Huế học tại trường Pháp Việt, Châu Kỳ vốn có sẵn giòng máu văn nghệ cho nên ông thường bắt chước ngân nga những bài hát Pháp ngữ thịnh hành thời đó như "J' ai deux amours", "Tant qú il y aura des étoiles", "Où vous étiez, mademoiselle"... mà danh ca Tino Rossi thường hay trình bày. Tuy là hát chơi để cho mình thỏa thích chính mình nhưng tiếng ca Châu Kỳ lại được bạn bè cũng ưa thích. Sẵn dịp, bà chị của Châu Kỳ là nữ nghệ sĩ tên tuổi Châu thị Minh sáng lập đoàn Ca kịch Huế với bảng hiệu Hồng Thu, và theo lời yêu cầu tha thiết của chị, Châu Kỳ bỏ dở nửa chừng con đường học vấn để theo hẳn nghiệp cầm ca. Lúc đó Châu Kỳ nghĩ rằng gia đình cũng không được khá giả gì cho lắm, nếu còn phải đến trường thì cha mẹ phải lo chu cấp cho việc ăn học, còn chị mình thì đang lúc cần mình cho đoàn ca kịch Hồng Thu. Thôi, một công mà đôi việc, vừa giúp chị mà cũng vừa giúp cha mẹ đỡ một gánh nặng, lại còn có thể đem tiền về giúp lại cha mẹ già nữa. Thế rồi cậu học sinh Châu Kỳ trở thành nghệ sĩ Châu Kỳ, chuyên trình bày ca nhạc, theo đoàn đi lưu diễn khắp nơi.
Thoạt tiên, đoàn sang Lào, diễn tại các tỉnh Savannakhet, Thakhet và thủ đô Vientiane. Những mối tình được dịp nẩy nở giữa chàng trai tuấn tú, đa tài của Việt Nam và những cô gái Lào duyên dáng ở 3 địa điểm mà đoàn đã đi qua.
Nhưng mối tình đầu của người con trai xứ Huế là khi đoàn Ca kịch Huế trở về Việt Nam, đi lưu diễn một vòng ở Việt Bắc, ra Hà Nội, trở lại miền Trung rồi lần đến Nha Trang. Tại đây, người ca sĩ trẻ tuổi, hát hay Châu Kỳ lọt vào cặp mắt xanh của một nữ sinh thật đẹp, vốn dòng dõi trâm anh, con nhà quyền quý tên Đoàn thị Sum. Lạ gì phản ứng của bậc cha mẹ thời đó, môn phải đăng, hộ phải đối, nhà cửa đôi bên thông gia phải tương xứng nhau, trong khi nhạc sĩ Châu Kỳ, nhà là đoàn hát, cửa là cửa rạp hát cho nên ông bà thân của cô Sum bắt buộc cô phải chọn một trong hai, hiếu hoặc tình. Để cho đôi bên được vẹn toàn, cô nữ sinh, người yêu đầu tiên của Châu Kỳ đã uống thuốc độc tự tử. Hôm ấy là vào ngày 10 tháng 12 năm 1942. Ngày cô Sum tự tử vì Châu Kỳ và cho Châu Kỳ, người nhạc sĩ đa tài của chúng ta đang diễn tại Phan Rang. Nghe tin sét đánh này, Châu Kỳ cũng quyết nhảy xuống dòng nước để hủy mình theo người yêu nhưng nhờ bà chị cản ngăn, khuyên bảo, viện dẫn lý do Châu Kỳ là con trai trưởng, còn cha mẹ già phải lo phụng dưỡng cho nên Châu Kỳ bỏ ý định quyên sinh. Chúng ta ắt cũng hiểu vì sao những sáng tác của Châu Kỳ đa số là những bài nhạc không vui như "Tôi viết nhạc buồn", "Xin làm người tình cô đơn", "Khúc ly ca"v.v...
Người yêu chết, Châu Kỳ không chết theo được, chàng buồn bã rời bỏ đoàn hát, trở về Huế để rồi - họa bất đơn hành - chàng lại được một tin buồn khác khi thân mẫu của chàng bị nước cuốn trôi trong cơn lũ lụt ở Thanh Hà.
Bước chân phiêu lãng đưa Châu Kỳ vào Saigon năm 1947. Ông cộng tác với Đài Phát thanh Pháp Á trong ban "Thần Kinh Nhạc Đoàn" của ca nhạc sĩ Mạnh Phát và ban Tiếng Thùy Dương do chính anh làm trưởng ban. Trong hai ban này, có mặt các ca sĩ như Mạnh Phát, Linh Sơn, Minh Diệu, Minh Tần, và Mộc Lan. Chúng ta không ngạc nhiên chút nào khi tình cảm nẩy nở giữa đôi trai tài gái sắc, một Châu Kỳ đã nổi danh từ Huế vào Nam, một người đẹp Mộc Lan, tính tình đoan trang, thùy mị, dịu dàng, duyên dáng mà không chút kiêu căng, còn tiếng hát thì truyền cảm, dễ thương. Không lâu sau đó, đôi trai tài gái sắc thành chồng vợ. Tháng 11 năm 1949, hai vợ chồng Châu Kỳ - Mộc Lan được ông Thái văn Kiểm, giám đốc Thông tin ở Huế mời hai người ra cộng tác với Đài Phát thanh Huế. Châu Kỳ nghĩ rằng bây giờ đã có gia đình, thôi thì cũng nên trở về Huế làm việc và sống gần gũi với mẹ cha. Nhưng chỉ được 3 năm, vào năm 1952, Mộc Lan âm thầm từ giã Châu Kỳ để chàng thêm một lần nữa, khóc cho tình duyên của mình thêm một lần ngang trái, bẽ bàng. Buồn vì cuộc tình không trọn vẹn, Châu Kỳ xin thôi cộng tác với Đài Phát thanh Huế để trở vào Saigon với những nhạc phẩm viết cho mối tình dang dở này như "Từ giã kinh thành", "Mưa rơi"...
Trở lại Saigon hoa lệ năm 1953, cảnh cũ còn đó nhưng người xưa chẳng thấy đâu, Châu Kỳ chỉ làm bạn với chiếc tây ban cầm cũ kỹ trong nhà và ở ngoài đường phố là chiếc "vespa" xập xình, màu trắng mà anh dùng làm chân để xê dịch đó đây, lên đài phát thanh, lại nhà in, ra quán nhạc, tới quán nhậu. Thời gian này, nỗi đau buồn tích trữ, cô đọng lại thành những âm điệu bi ai, Châu Kỳ liên tục cho ra đời những sáng tác "Giữa lòng đất mẹ", "Tôi chưa có mùa Xuân", "Sao chưa thấy hồi âm", "Hồi âm", "Cánh nhạn hồi âm", "Con đường xưa em đi", "Đừng nói xa nhau", "Cuối đường kỷ niệm", "Nước mắt quê hương", "Đón Xuân này nhớ Xuân xưa", "Vào mộng cùng em", "Em sắp về chưa"... mà một vài bài trong số này phần lời do Hồ Đình Phương hoặc Tô Kiều Ngân viết. Đặc biệt trong loạt bài này có một bài Châu Kỳ viết theo thể điệu Tango, cung Ré thứ rất ai oán, não nùng, than trách cho thân phận của một người còn lại khi người yêu đi lấy chồng. Đó là bài "Được tin em lấy chồng":
"Được tin em lấy chồng
Ôi lòng buồn biết mấy
Được tin em lấy chồng,
Biết người từ dạo ấy,
Còn thương tiếc hay không...”
Nhưng thời gian là liều thuốc nhiệm mầu - như người ta thường nói - cuộc tình xưa rồi cũng đi vào dĩ vãng, dần dần chìm vào lãng quên, còn lại chăng chỉ là những dòng nhạc buồn, những dòng nhạc kỷ niệm, tích trữ thành những tác phẩm để lại cho hậu thế.
Năm 1955, Châu Kỳ thành hôn với một ý trung nhân người miền Nam, cô Kha Thị Đàng. Hôn lễ được cử hành tại tửu lầu Trương Ký ở Chợ Lớn có sự tham dự đông đủ của anh chị em ca nhạc sĩ trong giới tân nhạc như Phạm Duy, Hoài Trung, Hoài Bắc, Thái Thanh, Thái Hằng, Khánh Ngọc, Trần Văn Trạch, Dương Thiệu Tước, Thẩm Oánh, Hoàng Trọng, Văn Phụng, Châu Hà, Thu Hồ... và một số đông anh chị em trong giới cổ nhạc Nam phần. Châu Kỳ và bà Kha Thị Đàng có được 4 người con, 3 trai và một gái, những người con đều đã thành gia thất.
Cũng như một số ca nhạc sĩ trước 1975 mà nay còn ở lại Việt Nam, gia đình Châu Kỳ không thoát khỏi cảnh nghèo túng. Từ một ngôi nhà khang trang trước 1975 phải bán đi để trả nợ cho sự sống còn để rồi còn một mái nhà dột nát ở xã Tân Quy, huyện Nhà Bè hiện nay, từ một chiếc "vespa" cũ kỹ trước 1975, nay lại còn một chiếc xe đạp và từ năm 1975 cho đến nay tính ra Châu Kỳ đã có đến chiếc xe đạp thứ 16, vì bị mất cắp, vì bị hư hỏng không còn xài được nữa và bạn bè - cũng rách nát như anh - thương tình giúp đỡ cùng với món tiền ít oi mà các trung tâm băng nhạc ở hải ngoại gửi về để cho anh mua chiếc xe đạp khác, mua rồi mất, mất rồi mua, nay đã là chiếc xe đạp thứ 16 của anh.
Cũng trong thời gian sau 1975, trong bối cảnh của một xã hội đổi mới theo chiều hướng đi xuống, Châu Kỳ có những sáng tác mới thích hợp với cuộc sống hiện tại như "Bóng mát Tân Quy" (lời Kiên Giang), "Một mình với Guitare" (1 và 2), "Giọt đàn theo giọt lệ", "Bỏ phố lên rừng", "Đôi dép ngược" và một số bài phổ thơ của Hoàng Hương Trang, Trương Minh Dũng, Đặng Nguyệt Anh, Nguyễn Thanh Nhã, Vũ Thành Nhơn, Nguyễn Hải Phương...
Người nhạc sĩ tuổi bát tuần, thân thể giờ đây tuy có ốm yếu, gầy mòn nhưng trong nét nhạc vẫn còn những tinh anh vì tuổi Quý Hợi tuy bề ngoài hiền hậu, thư sinh, ôn nhu nhưng bên trong chứa đầy nghị lực. Mới ngày nào đây, khi những ca khúc đầu tay như "Trở về", "Tiếng hát dân Chàm" ra đời thế mà nay đã ngót nửa thế kỷ, "bóng dâu đã xế ngang đầu".
Từ xã Tân Quy, huyện Nhà Bè, Châu Kỳ nhìn lại khoảng đời đã đi qua mà lòng không khỏi bùi ngùi xúc động, xót thương cho một số đông bè bạn thân mến đã vĩnh viễn ra đi, một số thì diệu vợi xa cách, chỉ còn chăng một số ít oi còn ở lại nhưng cũng lâm vào hoàn cảnh khốn khó, bần bách, đôi mắt nhòa nhạt vì tuổi đời chồng chất.
Sáng 6-1-2008, giới âm nhạc bất ngờ nhận được tin nhắn: nhạc sĩ Châu Kỳ đã qua đời ở tuổi 85

(Nguồn: yeunhacvang.com)


Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gởi tin nhắn Gởi email
Trình bày bài viết theo thời gian:   
Gởi bài mới   Trả lời chủ đề nầy    Diễn Đàn MẪU TÂM -> TIN TỨC VĂN NGHỆ - THỜI SỰ HẢI NGOẠI Thời gian được tính theo giờ Việt Nam PST (U.S./Canada)
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3 ... , 199, 200, 201  Trang kế
Trang 200 trong tổng số 201 trang

 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gởi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn
|   Register   |   Tin nhắn riêng   |   Đăng Nhập

Powered by -php_BB- Copyright © mautam.net, 2005. All Rights Reserved