EUGÉNIE GRANDET
Chuyển đến trang 1, 2, 3 ... 13, 14, 15  Trang kế
 
Gởi bài mới   Trả lời chủ đề nầy    Diễn Đàn MẪU TÂM -> GÓC ĐỌC & NGHE TRUYỆN ONLINE
Xem chủ đề trước :: Xem chủ đề kế  
Tác giả Thông điệp
phuongtim11



Ngày tham gia: 30 3 2010
Bài gởi: 15941

Bài gởiGởi bởi: Hai 12 22, 2014 7:26 pm    Tiêu đề: EUGÉNIE GRANDET


Tác giả: Gerald Gordon

Thể loại: Tiểu Thuyết

Dịch giả: Đắc Lê & Hoàng Túy

Biên tập: Đông & Kim Trần


HÃY ĐỂ NGÀY ẤY LỤI TÀN


Phần I:

Mary - Chương 1


Cho tôi rượu seri, thưa ông.

Từ sau quầy bàn, Otto Hunter quan sát người đàn ông có nước da nâu sẫm vừa bước vào, y ra lệnh, giọng cộc cằn:

- Bỏ mũ ra!

- Ja, thưa ông chủ - người khách hàng lúng túng bỏ mũ.

- Tóc này xoăn tít mà – Hunter vừa nói, vừa chỉ những vòng tóc xoăn dựng đứng, đặc trưng, nằm trên đầu người đàn ông đó. – Mày là một tên Caphia. Tao không bán cho mày. Cút đi!

Người đàn ông đưa mấy ngón tay vuốt đầu

- Không phải thưa ông chủ, tôi là người da màu, không phải Caphia đâu. Thưa ông chủ, cho tôi mua một cốc seri.

Ánh mắt mang vẻ van nài, người đàn ông đó đặt một đồng nửa silinh lên mặt quầy. Hunter đảo mắt quanh quầy rượu. Y gọi to:

- John, lại đây!

Một thổ dân cao lớn đặt chiếc cốc đang rửa xuống, bước tới chỗ chủ tiệm. Hunter trỏ khuôn mặt lo âu bên kia quầy rượu:

- Nó là một tên Caphia hay một gã da màu?

John chột mắt chằm chằm nhìn người kia một lát.

- Thưa ông chủ, một tên Caphia đấy.

Chủ của hắn, vóc người to lớn, nét mặt cáu kỉnh, trông hãm tài, có bộ ria oai vệ nhìn trừng trừng một cách tàn nhẫn.

- Tao không bán cho mày, xéo mau đi! – Hunter chỉ ra cửa. Người đàn ông đó đứng yên, vẻ cau có giận dữ thoáng qua trên mặt anh ta. Hunter cúi xuống nắm lấy chiếc roi da nặng chịch để giữ các chai rượu. Y giơ chiếc roi cao quá vai và đập đen đét trên quầy. Người đàn ông đó bước lùi lại, hai tay che mặt, miệng há hốc sợ hãi.

- Xéo đi! – Hunter thét lên. – Này, cầm lấy tiền của mày, cút đi mau!

Mắt vẫn theo dõi chiếc roi da đã lại vung lên, người đàn ông rón rén tiếng về phía trước, chộp lấy đồng tiền của mình và lui ra cửa, đến đây anh ta trừng mắt nhìn Giôn trước khi lén bước ra.

Hunter ném lại chiếc roi da xuống dưới quầy.

- Chắc hẳn chúng lại muốn giở trò! – Y càu nhàu với John khi quay nhìn các khách hàng khác đang ở trong gian hàng dành cho khách không phải người Âu.

Rót ra thứ rượu vang Kêp rẻ tiền, y nhăn mũi và quay đầu tránh cái hơi người ấm và ẩm của khách.

Những người da màu không quan tâm đến thái độ khinh miệt của “ông chủ Hunter” đối với họ. Khi họ đứng đợi, háo hức, mắt thao láo và thèm khát nhìn rượu chảy ồng ộc vào các cốc thì điều quan trọng đối với họ là rượu khách sạn Đại Bàng này không có vị nhạt như pha nước lã.

Khi họ đã trả tiền và ra về hết, Hunter mệt mỏi lui vào căn phòng của y ở phía sau quầy rượu.

Y nói với mụ vợ cao kều, xương xẩu:

- Bọn quỷ ấy bốc mùi hôi thối quá!

- Thôi đừng ca cẩm chuyện đó nữa!

– Người đàn bà nói bằng giọng mũi

–Tiền của họ chẳng tốt hay sao!

- À, - Hunter trả lời, buông người xuống chiếc ghế bành. – Tôi ghét nhìn thấy bọn chúng.

Cho đến tận bây giờ, vào năm 1921, giọng nói và cách nói của Hunder vẫn còn mang nặng dấu ấn gốc gác Đức của y, tuy đã nhiều năm trôi qua kể từ ngày y di cư tới Nam Phi.

Vợ y nhô đầu ra phía trước hỏi:

- Vậy sao anh lại cho thằng George nó nghỉ?

Hunter trừng trừng nhìn mặt vợ. Cặp mắt to và lõm sâu khiến khuôn mặt ấy nom giống một chiếc đầu lâu.

- Gì thì gì, - vợ y tiếp tục, - sao lại cho hắn nghỉ cả ngày thế? – Khi nói, cổ chị ta dường như vươn ra.

- Đừng có mè nheo tôi nữa, nghe không? Vợ chồng họ vừa sinh đứa con đầu lòng. Cô thì biết cái quái gì về những chuyện như thế! – Giọng Hunter rít lên, người vợ chùn lại. – Cô đúng là con bò cái già tuyệt đường sinh đẻ,

- y nói thêm

- Phải rồi, vợ y nói, môi trề ra, - tôi thà không sinh nở còn hơn đẻ ra một đứa lai!

Cằm Hunter chìa ra khỏi cái cổ bò mộng, y ngồi nhô về phía trước chiếc ghế bành.

- Cô là con chó cái già cằn cỗi, không đẻ đái gì cả - y lại hướng mũi tên phóng trúng đích, vẻ khoái trá. – Meri là một người đàn bà da màu, sao nữa? Cô muốn gì nào? Một chút cà phê pha vào sữa, đôi khi lại làm tăng hương vị. Cô ta chẳng có gì đáng chê trách. Cô ta có giáo dục, là người tử tế, đứng đắn. Còn hơn khối con mẹ da trắng tôi biết. Ja.

- Thằng cha ấy luôn muốn khoe khoang về họ hàng dòng dõi trâm anh thế phiệt ở Anh. Ngài Mark ở Mêphêơ là anh họ hắn, hắn bảo thế đấy. Vậy sao lại đâm đầu lấy một con đàn bà Hotmot? Tôi không dung thứ cho những thằng đàn ông làm ô nhục tổ quốc như vậy. – Lời lẽ của người đàn bà này được nhấn mạnh ẩn đầy ác ý.

Hunter mỉm cười không vui, môi cong lên, lộ ra những chiếc răng chắc chắn, vàng ệch. Y nói:

- Cô ta là một người phụ nữ tao nhã, đáng kính, dù có pha một chút màu da. Cô ta săn sóc, nuôi dưỡng chồng khi hắn đã rượu chè be bét suýt thành kẻ bỏ đi. Từ đó, nhờ cô ta, hắn trở lại sống lương thiện. Khi nào đến thăm, cô sẽ thấy cô ta trông nom nhà cửa, bếp núc như thế nào. Cô ta có thể chỉ bảo cho cô đôi điều đấy.

- Tôi xin anh đừng có đem tôi ra so với một con da màu.

- Cô không thể sánh với cô ta đâu.

- Chao ôi, tôi không thể sánh với con mụ ấy ư? Còn anh thì sao? Trong công việc làm ăn, cái tính thô tục của anh phỏng ích gì? Anh làm mọi người hoảng sợ lánh xa. Nếu không có thằng George, anh phải đóng cửa tiệm từ lâu rồi kia, chứ không kiếm được tiền như thế này đâu. Anh chẳng có thớ làm một ông chủ tiệm.

- Có lẽ thật thế đấy. Tôi là một người thượng lưu, ja. Tôi chỉ huy, George tuân lệnh. Hắn giao thiệp với bọn hạ lưu và bọn cặn bã. Còn Meri, vợ hắn, - Hunđơ vừa nói vừa cầm tờ Tuần báo lên đọc, - phải, Meri vợ hắn, người đàn bà da màu ấy còn giá trị bằng một tá người như cô.

Khi vợ y ra khỏi phòng, Hunter đặt báo xuống. Y hình dung thấy Mary. Y nhìn thấy nước da màu ô liu sáng láng, đôi mắt nhung màu nâu mượt mà, đầy diễn cảm, tóc đen mượt, không quăn. Trời, y sẵn sàng đổi mụ phù thủy già của mình để lấy Mary vào một ngày nào đó. Vào một đêm nào đó thì đúng hơn. Nàng là một người đàn bà xinh xắn. Y mường tượng nàng nằm với George xanh xao, còn dòng máu đỏ của George như tập trung cả vào các mao mạch giãn nở ở mũi hắn. Thật phí của!

Tiếng “reng” lanh lảnh báo hiệu có người ấn chuông ở quầy rượu dành cho người Âu. Hunter đứng dậy, nặng nề bước vào quầy. Có hai người khách, y nhìn họ không hề tươi cười.

- Ô, ra là anh, - một trong hai người khách lên tiếng. – Tay George dâu rồi?

- Vợ hắn ta ở cử hôm nay, - Hunter trả lời, - các anh uống gì?

- Một lít bia!

- Còn anh?

- Cũng thế!

Hai người khách uống từng hơi dài và mải mê trò chuyện, phớt lờ chủ tiệm.
Đột nhiên, một người nâng cốc lên, nói với Hunter:

- Tôi cho là nên nâng cốc chúc mừng anh. Chúng ta uống để chúc mừng thằng nhãi con George không giống thằng bố nó, anh biết tôi định nói gì…

- Tôi cũng thế, - người kia nhận xét. – Thằng cha ấy không đáng bị khốn khổ.

Họ uống ừng ực. Hunter quan sát họ. Bên trong bộ mặt lầm lì, bộ ốc lì xì của y đang hoạt động. Phải – y suy nghĩ. Trong đất nước này, một thằng đàn ông lấy một con đàn bà da màu là chuốc luôn mọi phiền toái vào mình. Chỉ trộn thêm một tý màu da đen là đã đủ rầy rà. Nghĩ cho cùng, mụ vợ già của ta còn hơn.


Vợ Hunter lẻn vào gian phòng nhỏ mà chị ta đã ở đó một mình hàng bao năm nay. Chị ta mở tủ, lấy ra một chai rượu và một chiếc ly. Rót ra một ly nhỏ, cầm ly giơ lên ánh sáng chiếu qua cửa sổ, mỉm cười mơ hồ. “Mi không tàn nhẫn với ta, phải không người tình của ta?”. Vợ Hunter lẩm bẩm đưa mắt liếc nhìn thứ chất lỏng đó, khi ấy một ánh hồng lướt qua dưới lớp da khô ở hai bên má, chị ta nốc rượu brandi nguyên chất.


o0o


CHƯƠNG 2



Những đám mây bụi đang lướt nhanh trên khắp miền lòng chảo mênh mông với những đụn cát đã nhạt mày dưới ánh nắng châu Phi. Băng qua các thung lũng và các bồn muối, rồi nhằm vào cái thị trấn nhỏ bé nằm rải rác, có cái tên “Xtomhốc” (Góc bão). Đứng ở hàng hiên ngôi nhà nhỏ bốn buồng của mình, và lấy tay che mắt tránh ánh nắng ban mai, George Grm bỗng nhìn thấy ở nền trời xa xa, phía sau những cây hồ tiêu, một vệt nhỏ hình quả lê.

- Mary, - anh vừa chạy vào nhà vừa gọi to, - gió Nam đang ập đến. Bao tải để đâu?

- Trong bếp ấy! – Mary từ buồng ngủ nói vọng ra.

George vơ vội lấy một ôm bao tải, ném vào bồn tắm chứa nước. Rồi anh chạy ra ngoài, nâng các cánh cửa chớp lên che cửa sổ. Lúc này, đám mây bụi đã lớn hơn rất nhiều, và đã nghe rõ tiếng gió thổi. Anh trở vào nhà, lấy bao tải ướt đắp lên các kẽ hở ở cửa ra vào và cửa sổ.


Mái tôn bắt đầu rung rung, các cửa sổ lắc lạch cạch. Trong khi đó lớp bụi màu vàng ở các đường phố không lát xoáy cuộn lên hòa vào đám bụi nâu đo đỏ từ thảo nguyên ập về. Lúc tiếng gió rền rỉ chuyển thành tiếng rít đinh tai. George ngồi xuống giường và lau những giọt mồ hôi đọng trên mặt. Gian buồng lúc này tối đến mức phải bật đèn. Từ buồng ngủ, Marygọi to, nhưng tiếng ầm ầm của trận bão làm George không hiểu vợ nói gì. Anh đứng dậy, vào chỗ vợ. Bụi phụt vào trong buồng vì Mary đã nâng cánh cửa sổ lên dăm phân và đang vất vả cố đóng chặt một cánh cửa chớp bị bung ra.

- Đóng cửa sổ lại! – George hét to. – Anh sẽ ra ngoài chặn nó lại.

Anh vội vã tới cửa sau, xoay quả đấm, nhưng sức gió quá mạnh, đến nỗi dùng vai đẩy hết sức vào khung cửa anh cũng không mở được. Cuối cùng mở được thì hành lang tức khắc ngập đầy bụi. Bị ho sặc sụa, anh đóng sầm cửa lại

- Chẳng ăn thua gì, - anh hét to với Mary. – Anh không thể ra ngoài được.

- Thôi khỏi lo, - Mary nói - ta cứ để mặc nó vậy và cầu nguyện cho lần này kính không bị vỡ.

- Anh mong em để cho thằng bé yên.

- Em phải che cho nó cẩn thận, trong buồng nhiều bụi lắm rồi.

- Chà, được thôi! Thấy cần thì làm đi!

George nằm duỗi dài trên giường, lắng nghe bão đập liên hồi vào các cánh cửa chớp và mái nhà. Bụi lọt vào buồng thành những đám mưa bụi từ trần rơi xuống, bao phủ mọi vật. Bên ngoài, gió rít lên tới cao độ, hạ thấp xuống thành tiếng ồn ào rồi lại rít lên. Thỉnh thoảng gió rú lên man rợ, Giogiơ nghĩ rằng nếp nhà nhỏ bé này sắp bị giật tung khỏi nền móng. Nhưng anh thật sự không lo lắng tới chuyện xảy ra. Bất cứ lúc nào khi trận gió đáng ghét này ập đến, anh đều cảm thấy mình quá bất lực. May thay, ít khi gió kéo dài quá một hai giờ; tuy vậy, anh lại nhớ tới lần nó hoành hành liên tục mấy ngày ròng, các đồ vật bằng gỗ bị khô hong, chỗ nào cũng nứt toát cả ra, một tia lửa cũng đủ bắt cháy; lần đó, ngôi nhà bên kia đường đã bị thiêu rụi…


Cái nóng trong gian buồng đóng kín lúc này trở nên dữ dội, quần áo anh ướt đẫm mồ hôi. Qua tiếng ầm của cơn bão, anh nghe thấy từ buồng ngủ tiếng cánh cửa chớp bị bung ra đập vào tường. Âm thanh đó vọng đến đều đặn và cứ hai giây một lần anh lại phải nghe. Dường như nó dành riêng cho anh, cố tình nhạo báng anh đã yếu đuối bất lực, không đương đầu nổi với cái bụi để ra ngoài đóng cánh cửa chớp lại. Dù cơn bão hoành hành ầm ĩ đến nhường nào, tai anh vẫn phải nghe tiếng đập mạnh liên hồi đó.


Đối với anh, thứ gió bão này là hơi thở của châu Phi, ám bụi, nóng bỏng ngột ngạt; đó là một lục địa mênh mông man rợ luôn luôn thách thức con người. Một số người cố ý đương đầu với nó. Một số khác cảm thấy bản thân mình, nạn nhân của hoàn cảnh, bị cuốn vào trong xoát lốc của nó. Giogiơ biết rõ mình thuộc vào loại người nào, nhưng đã từ lâu anh không thiết đến gì nữa.


Cơn bão tiếp tục ầm ì, quất mạnh, sục sôi, rít lên; và bây giờ hòa lẫn với bão không những chỉ có âm thanh điên cuồng của cánh cửa chớp mà còn có cả tiếng khóc của con anh; anh tự trách mình đã không ra ngoài, vì biết đó là lý do đã làm đứa bé tỉnh giấc.


Ý nghĩ anh quay về với những ngày niên thiếu; anh thấy chính mình cưỡi con ngựa nhỏ băng qua đồng và xuyên qua các trảng có nhiều cây cối. Bây giờ, những hình ảnh như thế rất ít khi trở lại trong óc anh, nhưng anh còn mơ màng nghe thấy tiếng cười trẻ trung của một thiếu nữ…


Mary vào buồng ăn, hai tay bồng đứa bé cuốn trong tấm chăn. Chị đi đi lại lại đung đưa ru cho nó ngủ nên chẳng mấy chốc nó đã nín khóc. Nét mặt chị lúc nào cũng đượm một nụ cười mơ hồ, nụ cười biểu thị sự bình tĩnh không cho phép gió bão trấn áp chị. Với nụ cười ấy, chị sẵn sàng dung thứ sự thất bại của chồng.


Lúc này, George nghe rất rõ tiếng cánh cửa chớp gãy mạnh, tiếng ầm đó còn chói trong óc anh rất lâu sau khi gió đã giật cánh cửa chớp bật khỏi bản lề và ném nó nằm bất động trên mặt cát…

Họ ngồi vào bữa ăn điểm tâm muộn màng.

- Biết bao nhiêu lần anh đã bảo em đừng lưu tâm đến chuyện đó nữa? – Giogiơ nhìn vợ, đôi mắt nhòa lệ của anh đã mất màu xanh da trời.

– Em làm cả hai chúng ta khốn khổ vì những ý nghĩ điên rồ của em. Một con người chỉ có một chút, một chút xíu da đen thì có can hệ gì? Em đã mang những ý nghĩ không lành mạnh. Cuộc sống thật không đáng sống! Vì Chúa, em hãy bình tĩnh lại!

Mary đăm đăm nhìn khung cửa chớp đã đóng lại. Mắt chị long lanh, những giọt nước mắt lưng tròng chị cố kìm giữ lại.

George vỗ nhè nhẹ vào tay vợ.

- Em là một người đàn bà xinh đẹp. Bất cứ ai ai cũng lấy làm tự hào có được người vợ như em.

Mary không trả lời, đứng dậy đi qua cái cửa để ngỏ bước vào buồng ngủ, George nhìn theo, chiếc cằm thiếu nghị lực của anh run rẩy. Anh uống trà, đoạn đứng dậy, đi ra ngoài. Cánh cửa chớp bị bật ra nằm vùi dưới cát, lặng lẽ và bất động như con thú vị giết. Anh cẩn thận nâng nó lên, xem xét các bản lề bị gãy, dựng nó vào tường. Rồi anh hạ các cánh cửa chớp còn lại xuống. Mặt kính cửa sổ lộ ra, phủ một lớp bụi mờ đục, sàn sạn.
Khi đã vào trong nhà, anh tắt đèn, bước sang buồng Mary. Ở đây, tất cả đều lặng lẽ. Mary đang nhìn xuống khuôn mặt hồng hào nhỏ xíu như đứa trẻ nằm trong chiếc giường cũi sơn trắng.


Mình sẽ làm cho cô ấy vui lên, anh nghĩ thầm. Anh bước đến bên vợ, khẽ vỗ vào vai chị.

- Hôm qua ở quán rượu, lão Taylo có kể một câu chuyện khá thú vị, -


George bắt đầu kể. – Chuyện xảy ra ở một đám cưới thôn quê. Đám đông khách dự cưới khá là lỗ mãng, tất cả chỉ đợi cô dâu thay quần áo xong là họ bắt đầu lao vào nhậu nhẹt, nhảy nhót. Thế rồi một vị khách tìm cách lẻn vào phòng cô dâu và bậy bạ với cô ta. Như thế đấy. Thật thế đấy!


- Tất nhiên mọi người hết sức bối rối. Anh chàng phù rể tuyên bố không ai được động đến một giọt rượu chờ đến khi sửa được cái sai ấy. Mọi người nhìn rượu brandi mà thèm khát, nhưng không được nhấm nháp tí gì. Một lúc sau, anh chàng phù rể bỗng chạy ra, anh ta kêu mọi người im lặng, rồi nói:”Đâu vào đấy rồi, thưa quý ông, quý bà. Danh dự đã được phục hồi: thằng đểu ấy đã xin lỗi!”.


Trong khi chồng kể, Mary ngước mắt nhìn người đàn ông là cha đứa bé. Chị hầu như không nghe thấy gì. Đôi mắt đau khổ dõi tìm các nếp nhăn trên khuôn mặt thiếu nghị lực của chồng, và chị tìm thấy ở đấy đôi chút an ủi. Trong ánh mắt yêu thương chị dành cho chồng rõ ràng có hàm chứa cả nhận thức về mức độ yếu đuối của anh, và cả sự hiểu biết về quá khứ phóng đãng và thiếu trách nhiệm của anh.


George không cao lớn mà cũng chẳng đẹp trai. Mái tóc đỏ hoe của anh và cái mũi dài nhỏ cùng với mạng mạch máu li ti ở mũi không phải là mẫu mực cho một người đàn ông hấp dẫn. Nhưng George có cái duyên thường thấy ở nhiều người đàn ông phóng túng và Mary có thể hiểu được tại sao anh rất được nhiều người ưa thích tại quầy rượu của Hunđơ.


Lúc này đây George đang cười, tựa như họ không có một mối lo lắng nào trên đời này. “Cái thằng đểu ấy đã xin lỗi”, anh nói: “ha, ha, ha”.
nghĩ cho cùng, Mary là bà George Green cơ mà, vợ một người da trắng, một người Anh thuộc gia đình tử tế. Mary đưa tay lên, vuốt ve mặt chồng.
Không khí trong buồng ngột ngạt vì nóng bức, nhưng trong lòng Mary yên tĩnh lạ lùng, và khi ánh nắng ban mai màu hồng nhạt xuyên qua cửa sổ bám đầy bụi, đọng trên gương mặt đẫm mồ hôi của hai vợ chồng họ, thì tương lai không còn chứa chất quá nhiều nỗi niềm sợ hãi.


Trong một lúc lâu, họ đứng đó, tay trong tay; và tiếng động duy nhất còn lại là tiếng chiếc đồng hồ rẻ tiền tích tắc ở cái giá trên lò sưởi.

Họ trở vào buồng ăn.

- Kìa, anh chưa ăn hết miếng bánh mì nướng.Giờ hẳn nó nguội hết rồi.

- Trận gió đáng ghét ấy làm anh không muốn ăn nữa, - Giogiơ mỉm cười nói thêm – hơn nữa, cát bám vào bánh nhiều hơn bơ.

Trong khi Mary phủi bụi bám ở đồ đạc, Giogiơ đi quét cát ngoài hành lang gần cửa sau. Xong việc, anh trở lại phòng ăn, ngồi xuống chiếc ghế bành cũ cọt kẹt, cầm một tờ tạp chí lên. Nhưng anh không đọc được lấy một dòng mà cứ nhìn đăm đăm phía trước.

Sáng chủ nhật nào anh cũng đi dạo chơi; hôm nay tuy không thích lắm anh vẫn đứng dậy, cất tiếng gọi:

- Speter!

Khi con chó nhỏ, thuộc loại chó sục cáo, vừa sủa vừa chạy vào buồng, George cầm mũ, hôn từ biệt vợ.

Ra khỏi nhà, anh thấy bụi đã lắng xuống, không khí yên tĩnh. Anh rẽ vào phố và khi đi qua khách sạn Đại Bàng anh có cảm giác nhẹ nhõm nhìn thấy khách sạn đóng cửa nghỉ.


Khi khu phố nhỏ có cửa hiệu đã ở phía sau, anh tiếp tục đi và cái phố dẫn tới khu Klope là nơi ở của người da màu. Trước kia, anh ít đi qua đây, nhưng sáng này, một điều gì đó đã kéo anh đến khu phố này của thị trấn. Anh nhìn những đứa trẻ trên các đường phố. Gốc gác từ những nô lệ Mã Lai được nhập cảng từ các thế kỷ trước, hoặc từ người Hotanto thổ dân đã từng có thời lang thang ở Kêp, từ người da trắng (được gọi là “người Âu” theo lục địa quê hương của họ) và từ người Bantu da đen của châu Phi, những đứa trẻ này có nước da tiếp từ màu ôliu tới màu nâu sẫm. Tổ tiên hỗn hợp “người da màu Kêp” là như vậy. Mary thuộc số ấy.


Lũ trẻ đang chơi rất đông. Một chiếc xe bò lăn bánh ầm ầm qua đường phố đã phải thận trọng len lỏi qua giữa bọn chúng. Một số em mặc quần áo ngày chủ nhật sạch sẽ, nhưng đa số rách rưới đáng thương, và chỉ một số ít đi giày.


Con Speter chạy lăng quăng giữa bọn trẻ, sủa vang đầy phấn khích. George gọi con chó, đoạn rảo bước. Đây là lần đầu tiên anh biết về cảnh nghèo khổ bẩn thỉu và sự thảm hại của những căn nhà tồi tàn chủ yếu làm bằng tôn múi, đá và bùn trát lại.


Tuy nhiên, đây vẫn là những nhà ở còn ra hồn một tý. Sâu hơn ở phía trong, những gia đình đông đúc sống trong những gian nhà tồi tàn, nhỏ hẹp, chỉ có một buồng làm bằng những mảnh sắt gỉ của các vỏ thùng dầu cũ, những mảnh bao tải và mảnh gỗ hòm. Một số cấu trúc mỏng manh đã bị trận gió ban sáng giật sụp xuống và những người ở đó đang ra sức dựng lại.


Con Speter biến vào trong một túp lều lụp xụp, nhỏ bé, không có cửa. Giogiơ bước về phía đó để gọi con chó ra. Đứng ở chỗ trống ấy, anh nhìn thấy một người đàn bà rách rưới ở trong, nằm trong một chiếc chăn cũ tả tơi, có một người đàn bà khác đang săn sóc. Người đàn bà đó đang tu một chai rượu vang để cố làm giảm cơn đau đẻ. Tiếng rên rỉ vang to của bà ta và những lời rủa sả của người đàn bà săn sóc bám theo George khi anh vội vã bỏ đi.


Chẳng bao lâu nữa, những lán lều và các gian nhà tồi tàn thưa dần. George lại cảm thấy thoải mái với thảo nguyên khô, màu nâu. Thảo nguyên hoang vu và khô cằn nhưng nó vẫn đẹp so với cảnh nhớm nháp bẩn thỉu ở phía sau anh. Ve sầu kêu liên miên ở các cây vỏ sần gai khô cứng dưới ánh sáng như thiêu như đốt.


Nhưng George biết, tất nhiên không phải tất cả những người da màu của thị trấn Xtomhốc đều sống ở Klopi. Một số ít gia đình có điều kiện hơn sinh sống ở nhưng khu tốt hơn trong thị trấn. Những người phải sống ở Klôpi chỉ là những kẻ kiếm đủ tiền để có thể thoát khỏi cảnh tuyệt vọng đó. Một số người tìm niềm an ủi trong nhà thờ. Số còn lại cố lãng quên cảnh nghèo khổ, bẩn thỉu bằng cách uống lu bù những thứ rượu rẻ tiền vào ngày nghỉ cuối tuần. Những người khấm khá cố tìm đến những nơi mà chủng tộc họ đỡ bị khinh miệt hơn. Điều đó chẳng có gì là lạ.


Những người da màu mang gia đình đến ở trong khu người châu Âu chẳng bao giờ được hàng xóm láng giềng hân hoan đón tiếp cả. George vẫn còn nhớ rõ, khi anh và Mary đến phố Plên được một tháng, hai gia đình vốn ở đó từ lâu đã dọn đi như thế nào. Rồi cả những người ở lại cũng dần dần mất tính hiếu khách, vì trường hợp của anh không phải một trường hợp bình thường. Hầu hết họ biết anh. Nhiều người đàn ông coi anh là bạn, còn vợ họ cũng biết anh từng có tiếng tăm. Vậy mà, chưa hề có một phụ nữ nào đến thăm Meri cả. Giá họ lại thăm, anh cũng phải ngạc nhiên chẳng kém gì vợ anh.


Anh hình dung Mary đang ở nhà. Lúc này, hẳn vợ anh đang khâu vá, đọc sách, dọn dẹp nhà cửa hoặc chăm sóc thằng bé.


Anh cảm thấy đau nhói vì hối hận. Anh đã độc ác biết bao! Tuy vợ anh chưa phải sống trong những điều kiện như thế này, nhưng qua nhiều cái khác vợ anh đã biết rõ làm một người da màu có ý nghĩa như thế nào rồi! Vợ anh không có quyền đôi khi thổ lộ ý nghĩa của mình ư? Anh không cho phép vợ anh kể cho anh nghe mọi cảm xúc của mình để nhẹ bớt nỗi lòng ư? Anh nhớ lại chuyện xảy ra ở bàn ăn sau cơn bão, và anh đã trách móc vợ ra sao. Anh đã gay gắt, vô tình, không thông cảm. Anh dừng lại giữa con đường cát khô xuyên qua thảo nguyên, đưa tay lên vỗ nhè nhẹ và chậm rãi vào cằm. Con Speter chạy lại, đứng gần chân anh sủa vang chờ đợi.


Anh quay người bước nhanh trở lại. Tuy mong về nhà sớm, nhưng anh tránh khu Klopi, đi theo con đường dài hơn đôi chút vòng qua trang trại của Venter.

Khi George về tới nhà, Mary đang ngồi đan ở ngoài sân. Anh dừng lại, nhìn vợ với vẻ trêu trọc.

- Kìa, cô bé, bây giờ cô cảm thấy thế nào?

Meri mỉm cười với chồng

- Em xin lỗi anh về chuyện sáng nay, anh George ạ. Lúc bấy giờ, em như người rối trí ấy.

George gãi mái tóc đỏ hoe của mình, nhìn vợ:

- Đừng nghĩ những chuyện ấy nữa, ích lợi gì đâu! Em đừng quá tự ti. Em cũng tốt như bất kỳ người nào, Mary ạ.

Anh vào trong nhà, rồi lại đi ra, mang theo một chiếc gậy chơi “gôn” đã cũ mòn, có một đầu bằng kim loại cùng với mấy nút chai. Anh đặt nút chai thành một hàng trên nền sân cứng rồi nói tiếp:

- Anh cảm thấy khó chịu khi em tự xem thường mình, vì em là, là…

- Người da màu. – Mary bổ sung.

- Hừ, khỉ thật!

George dùng gậy đánh vào những chiếc nút chai làm chúng bay vọt đi. Sự tính toán của anh rất chính xác. Anh quay lại nhìn vợ:

- Da màu, da màu, da màu. – Giọng Mary chói lên cáu kỉnh; đôi mắt đẹp của chị lóe lên. – Chúng ta sẽ chẳng bao giờ vượt qua được chuyện đó.


- Chúng ta không phải bắt đầu bằng hết thẩy ư? Nhờ trời, em Mary ạ, thằng bé có nước da trắng. Hết tháng này, sang tháng khác, em đã cầu nguyện cho nó có được nước da trắng mà. Thì đấy, da nó trắng rồi phải không nào?

- Vâng, nước da của nó trắng.

- Thế em không sướng ư?

- Em sung sướng vô cùng.

- Vậy thì có chuyện gì rắc rối nào?

Mary ngước lên nhìn vào mặt chồng, rồi chậm rãi cụp mắt xuống. Tuy George là chồng chị, song anh ấy là người thuộc chủng tộc cao hơn. Anh ấy không mang một dấu vết ô nhục nào, và vì thế chẳng bao giờ có thể hiểu được.

- Chính ý nghĩ về những thiên kiến có thể chống lại nó, - Mary giải thích kiên nhẫn.

– Em đã biết là một người da màu là như thế nào rồi. Chỉ cần thiên hạ nghĩ rằng huyết quảng của anh có một giọt máu da màu, anh cũng bị người ta xa lánh. Tình thế của em ở nơi đây là một tình thế khốn khổ khốn nạn. Em không biết anh có hiểu không, anh George ạ. Em giờ đây không thuộc tầng lớp da trắng nhưng chẳng thuộc tầng lớp da màu. Một số phụ nữ da màu tử tế là bạn của em trước khi chúng ta lấy nhau, thì hiện giờ em cũng không còn được gặp một ai cả. Em biết bà Karen và những người khác không thích chuyện đó chút nào. Nhưng em không còn cách nào khác có phải không?


George gật đầu miễn cưỡng.


- Em chỉ còn có cách từ bỏ họ, - Meri nói tiếp.


– Nhưng mặc khác, vợ bạn bè anh không muốn chấp nhận em. Em cho rằng mình đành phải nhận lấy điều đó. Và em tin là họ bàn tán về em nhiều lắm, nào bà Haneman, nào bà Magraret và tất cả những người đàn bà khác mà chồng họ được coi là bạn tốt của anh. Em đứng chết chẹt ở giữa, chẳng thuộc bên bày, cũng chẳng thuộc bên kia. Em không muốn chuyện đó xảy ra với thằng bé Anthony . Anh George ạ, nó phải lớn lên thành một người Âu được kính trọng. Sau này nó phải đi học trường Âu. Anh phải lo chuyện ấy.


- Trời ơi, em nhìn trước quá xa đấy, - George lẩm bẩm chán nản.


- Em phải làm như thế, anh George ạ. Em có nhiều hoài bão về đứa con của em. Đó là sự khác nhau giữa chúng ta, - Mary nói, hơi có vẻ khinh miệt.
George phác một cử chỉ nóng nảy, nhưng không trả lời. Từ buồng ngủ vọng ra tiếng khóc của đứa bé. Mary đứng dậy, bước vội vào. Đến cửa buồng, chị dừng lại một lát, ngoái lại mỉm cười với chồng.


George lắc đầu nhìn vợ đi vào. Anh muốn bộc lộ tình cảm thân mật hơn, song không thể được.

- Gay quá, - anh nhủ thầm.

Rồi anh cúi xuống và cẩn thận xếp một hàng nút chai khác đúng vị trí.




Được sửa chữa bởi phuongtim11 ngày Ba 1 13, 2015 4:50 pm; sửa lần 7.
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gởi tin nhắn
phuongtim11



Ngày tham gia: 30 3 2010
Bài gởi: 15941

Bài gởiGởi bởi: Hai 12 22, 2014 9:09 pm    Tiêu đề:



CHƯƠNG 3


Bốn đứa bé đang phùng má, hét ầm ĩ nhịp nhàng và quay mạnh các cánh tay. Chúng đá ầm ầm vào những vỏ thùng dầu hỏa làm chúng nẩy bật lên ở khắp các lùm cỏ khô héo, bụi rậm. Thi nhau xem ai nhanh hơn và làm ầm ĩ hơn, chúng chạy xung quanh những cây hồ tiêu và các bụi gai.


Từ hiên nhà, Mary nhìn say mê. Con trai chị đang chơi với bọn trẻ hàng xóm. Nó đang lớn lên cùng với chúng. Nào là chú bé Vili , con ông giám đốc ngân hàng, nào là chú bé Tomi , con ông chủ lò bánh, thậm chí cả chú bé joey có người mẹ lạnh nhạt mỗi khi gặp Mary ngoài phố. Bọn trẻ đang chơi với nhau.


Con trai chị là một đứa bé người Âu. Nhưng không phải chỉ có thể. Chị đặc biệt hài lòng khi thấy những đứa bé kia rất hay hỏi con chị xem nên chơi như thế nào. Trong mấy phút liền, chị đứng nguyên một chỗ.


Cuối cùng, mặc dù chẳng muốn phá rầy chúng, chị gọi to át cả tiếng ầm ĩ của những chiếc thùng dầu hỏa:

- Anthony, Anthony

Anthony miễn cưỡng vâng lời, lê bước qua bãi cỏ đến chỗ mẹ.

- Anthony này, mẹ nhờ con một việc. Mẹ muốn con mang cái gói này đến chỗ bố con ở khách sạn.

Tức khắc, gương mặt Anthony rạng rỡ .

- Con ư ? Con có thể đi một mình tối chỗ khách sạn hả mẹ?

- Được, Anthony ạ. Bây giờ con đã là cậu con trai lớn rồi, con cần phải tự lo liệu lấy.

Anthony vỗ tay, đôi mắt xanh của nó sáng lên náo nức.


- Con bé bỏng của mẹ ngộ nghĩnh quá!


– Mery hôn con và đưa cho nó cái gói bọc giấy nâu. Không được đánh mất nhé… Đây là cái áo len của bố. Sáng nay bố để quên ở nhà. Con hãy đi thẳng tới đó, Anthony ạ, và phải cẩn thận nhé. Tuần tới con sẽ lên năm rồi đấy, và năm tới, chỉ vài tháng nửa thôi, con sẽ đi học.


- Thưa mẹ, vâng ạ.


Mary nhìn con chạy tới chia tay với mấy đứa bạn. Rồi trong lòng hớn hở, chị trở lại công việc nội trợ của mình.






Tới khách sạn, Anthony thấy bố đang nói chuyện với ông Hunter trong văn phòng, nó đưa cái gói cho bố. Khi nghe tiếng gõ xuống quầy hàng, George biến mất vào trong quầy bán rượu.


Hunter nâng Anthony đặt lên đầu gối và tung nó bật lên, rơi mạnh xuống. Rồi y đứng lên, lấy ở túi ra một penny và dịu dàng nói.


- Đây là quà cho cháu, cháu bé của bác. Bây giờ cháu về nhà đi.


Anthony chạy ra về, còn Hunter đứng ở cửa nhìn theo. Những nét nặng nề trên mặt y đượm một vẻ trầm ngâm tư lự.


Lúc đó, vợ Hunter từ vườn rau đi vào mang theo một rổ đậu. Chị ta theo dõi hướng nhìn đăm đăm của chồng, và nheo mắt lại.


- Một chú bé kháu khỉnh,


- Hunter lên tiếng,


- Niềm vui thú cho cha mẹ nó. Mary biết cách nuôi dạy con. Nó hệt như một người Âu. Tôi cứ tưởng lớn lên nó sẽ đen hơn nhưng mà không. Thậm chí có thể xem nó như một chú bé Đức.


- Một chuyện hú họa thôi. – Vợ Hunter mặt sưng mày sỉa.


– Lẽ ra nó cũng rất dễ thành một con vật nhỏ bé đen nhẻm lắm chứ!

Hunter nhìn vợ, nhăn mặt nhe cả răng ra:


- Như thế thì cô thích lắm, hả?


- Tôi quan tâm gì đến nước da nó. Nó có xanh, đỏ, tím, vàng, tôi cũng mặc xác. Việc gì phải chú ý tới nước da của mỗi thằng nhãi nhếch nhác, nhà quê ấy!


Đột nhiên, Hunter khịt mũi mạnh. Y cằn nhằn:

- Lại uống rượu rồi!

- Uống đâu?


- Đừng có chối! Cô không được động đến chỗ rượu brandy của tôi, nghe không?


– Giọng nói của Hunter cao lên.


– Cô đã nốc sạch hết lời lãi của quầy rượu. Tôi còn thu được gì ở đấy hả? Thật là đồ ăn hại. Một mụ đàn bà xấu xí, một mụ đàn bà cằn cỗi, không đẻ đái được, chẳng được cái tích sự gì trên giường. Nhưng uống rượu brandy ja, thì giỏi lắm.


- Này, anh hãy để tôi yên, - vợ Hunter rít lên. Chị ta khó chịu khi nhìn thấy đứa con của Mary, vì cũng khao khát có được một đôi môi như cánh hoa của đứa bé ngậm vào núm vú mình, nhưng lại không đẻ được. Ánh mắt trừng trừng, chị ta lẩn vào bếp mang theo rổ đậu. Hunter trở lại văn phòng.


- Cháu Anthony đâu rồi nhỉ? – George hỏi khi từ quầy rượu bước vào

- Cháu nó về nhà rồi. Anh có một cậu con trai kháu khỉnh lắm, George ạ.


- Xin cám ơn, - George nói, mặt mày rạng rỡ.


– Nhân tiện xin hỏi ông đã hỏi giúp cho cháu chưa? Ông biết đấy, thời gian cứ trôi đi và cháu nó thì đầu năm phải đi học rồi. Có sao không ạ?


- Anh lo lắng lắm phải không? – Hunđơ cười dịu dàng.

George gật đầu, đưa mắt nhìn xuống.


- Phải rồi, phải rồi . Hunter nói, xoa bàn tay vào nhau,


- Theo tôi thì tin tức khả quan lắm. Tuần tới tôi sẽ biết rõ, nhưng tôi đã thăm dò ý kiến các thành viên khác trong Ban quản trị trường rồi. Ja, đâu sẽ vào đấy thôi mà. Cháu Anthony sẽ được vào học ở trường Stomhock.


George nắm tay Hunter, lắc lắc nồng nhiệt:


- Tôi rất mong sẽ không gặp phải một trở ngại nào. Chuyện đó làm Mary lo ngại rất nhiều, tội nghiệp cô ta. Vợ chồng chúng tôi chẳng thể nào nghĩ tới việc cho cháu học ở trường của Hội Truyền giáo cùng với bọn trẻ da màu.


- Sao lại thế! – Hunter phản đối.


– Cho Anthony và một truờng da màu à? Không!


Đang ngồi khâu, Mary chợt nghe có tiếng gõ cửa. Chị ra mở cửa và ngạc nhiên thấy Hunter đứng ở đó. Trong khoảnh khắc, chị sợ George đã gặp phải chuyện gì. Nhưng ông Hunter đang tươi cười, nhe những chiếc răng vàng ệch ra cơ mà. Hunter lấm lét liếc quanh, một cử chỉ dường như xa lạ với thói kiêu căng thường ngày của y; rồi y bước nhanh vào nhà đóng cửa lại.


- Xin chào chị Mary. – Y ngối xuống chiếc ghế mảnh dẻ kêu cọt kẹt.

Y đưa mắt nhìn quanh số đồ đạc ít ỏi và nghèo nàn của Mary.

- Chị ở đây đàng hoàng lắm, - y nói.

Mary nhìn Hunter, phân vân không hiểu y đến thăm có mục đích gì.

- Chú bé đâu rồi nhỉ?

- Cháu nó đang chơi với các bạn.

- Với bạn à? Nó còn chơi lâu không?

- Khoảng một tiếng nữa.

- Chú bé khôi ngô lắm. Tôi đến để nói chuyện với chị về cháu đây.

- Cảm ơn ông.


Hunter nhìn Mary, vẫn tươi cười. Lông mày Mary là đôi vòng cung thanh tú, đen mượt. Nếu Hunter ngả người về phía trước, y có thể lấy tay miết theo đường nét đôi lông mày đó. Ánh mắt cuồng nhiệt đến căng thẳng của y, gần như một cái nhìn trừng trừng, chú mục xuống ngực Mary.


Một ánh hồng phơn phớt đượm trên màu ôliu của đôi má Mary
.
- Chị muốn cho cháu Anthony vào học trường Stomhock , có phải không nhỉ?

- Thưa ông, vâng ạ.


Mary biết Hunter là trưởng ban quản trị nhà trường và đa số các thành viên trong ban đều có liên hệ với Huner ở một mức nào đó về mặt tài chính.
Meri hồi hộp và chị đăm đăm nhìn vào mắt Hunter.


- Thế này nhé, việc đó không thể lo liệu được đâu. Cháu nó là một đứa bé da màu. Nhà trường không nhận trẻ em da màu.


Hunter ngồi y như một pho tượng, hai tay để trên đầu gối. Mồm y mở ra đóng vào nhanh và gọn, bật ra từng câu nói giống như tiếng roi quất đen đét ở sân khấu rạp xiếc.


Mỗi tiếng đen đét đó đều đập trúng đích.

- Chao ôi, ông Hunter, nhưng chắc chắn… Ông không thể…?

- Môi dưới Mary vẫn mấp máy, nhưng không một âm thanh nào phát ra được.


Hunter bắt đầu run run vì thèm muốn. Đôi lông mày nham nhở của y giật giật phía dưới mái tóc cắt ngắn. Y nói khàn khàn:


- Tôi rất lấy làm tiếc cho chị. Maryđáng thương quá, việc này gay lắm.


– Y đứng dậy. – Cháu Anthony sẽ đi học ở những trường dành cho trẻ em da màu.

– Hunter bắt đầu bước về phía cửa.


– Tiếc quá, cháu nó có nước da trắng đến thế. Bất kỳ ở đâu, người ta cũng lầm nó với một con bé da trắng.


- Ôi, ông Hunter, ông đừng đi vội! – Mary chạy tới, dùng cả hai tay bíu lấy cánh tay Hunter. – Ông không thể giúp một tý gì được ư? Xin ông ra ơn, ra ơn!






Nước mắt Meary chảy ra giàn giụa.


Với một động tác đột ngột. Hunter cúi xuống bế xốc Mary lên.


- Anh có thể làm được rất nhiều, - y nói bằng một giọng khác máu, một giọng khẽ khàng. Y cúi đầu, đặt mồm lên môi Mary, khéo chặt vòng tay quanh người chị. Những chiếc râu mép màu hung cứng đờ chọc vào môi Mary . Những tiếng kêu cưỡng lại vô hiệu quả, bị nghẹt dưới cái hôn.


Hunter xốc Mary vào buồng ngủ. Mặt y đỏ bừng, hai nhãn cầu nhìn chằm chằm. Chống lại sức lực của Hunter, cơ thể đàn bà của Mary chỉ là một cơ thể trẻ con, Mary há miệng kêu cứu.


- Thằng bé mà, đừng có quên thằng bé! – Hunter thốt lết, giọng hổn hển.
Y dằn Mary xuống giường và bắt đầu xé toang quần áo trên người chị.


o0o



CHƯƠNG 4



Anthony chạy trước, náo nức kéo tay bố. Những vòng tóc nâu của nó rũ xuống trán.


Nó mang trên lưng chiếc cặp da nâu đước mẹ mua cho hôm qua. Cặp vẫn trống không.


- Bố ơi, bố không nên ngày nào cũng đưa con đi học đây, - nó nói.

- Sao lại thế?

- Những đứa khác vẫn đi một mình mà.

- Con trai bố lớn hung thật rồi ! Được thôi, con ạ.

- Thầy giáo có dùng gậy đánh con không?

- Chỉ đánh khi nào con hư.

Bố con George tới trường.


Ớ lớp mẫu giáo, Georgecố vận dụng tất cả sức quyến rũ của mình. Anh khao khát làm sao cho họ nhận ra anh là một người Anh. Trong mấy phút trò chuyện, anh đã thành công trong việc cố tình ám chỉ tới “những ngày đi học đẹp đẽ xưa kia” ở Luân Đôn và tới thời “nghiên cứu ở Oxford” của mình.


Anh đã gây cho cô Nederm, cô giáo dạy Anthony một ấn tượng thích đáng.
Để con lại cho cô Nederm chăm nom, George ra về, tự hỏi không hiểu cô giáo nghĩ gì. Rõ ràng cô ta biết tất cả về Mary, Stomhock là một nơi khá nhỏ mà. Nhưng sao anh lại phải lo lắng? Anh biết Hunter đã sắp xếp mọi chuyện cơ mà.


Hunder quả thực đã sắp xếp xong xuôi mọi chuyện. Ông hiệu trưởng Thomas không muốn gánh trách nhiệm trong việc nhận Anthony vào học bèn đùn việc đó cho Hunter là trưởng ban quản trị và đề nghị đưa ra bàn trong cuộc họp lần tới của ban.


- Ông Thomas này, ông quan trọng hóa vấn đề đấy, - Hunter nói. – Ông có muốn nhận đứa trẻ vào học không?


- Thế này, thằng bé có vẻ Âu điển hình, về phần cha nó thì không sao cả, nhưng mẹ nó…


- Mẹ nó là một bà lịch sự có giáo dục.


- Phải rồi, nhưng chắc chắn bà ta là người da màu. Nếu chúng ta nhận con bà ta vào học, chúng ta có thể bắt buộc phải nhận những đứa trẻ da màu khác, và quy chế của nhà trường sẽ lỏng lẻo. Tôi e đây có thể là bước đầu từ cái sảy này đến cái ung đấy.


- Số học sinh của ông ra sao? –Hunter hỏi.


- Chúng ta không thể để mất bớt học sinh, - ông hiệu trưởng nói, - bởi vì nếu học sinh của chúng ta chỉ giảm đi ba em thôi thì chúng ta cũng mất một giáo viên. Tôi cũng có thể nhận vào một số trường hợp nhập nhằng nhưng khi ấy các phụ huynh khác sẽ cho con cái họ đi học nơi khác. Đó là một tình trạng tiến thoái lưỡng nan.


- Còn lương bổng của ông? Nếu số học sinh trường ông giảm chút ít, người ta sẽ cắt bớt lương ông, không phải thế ư?


- Tôi có thể bảo đảm với ông, ông Hunter ạ, rằng đó không phải là điều quan trọng chủ yếu, - ông Thmas lạnh lùng nói.


– Lợi ích của trường là vấn đề trước nhất.


- Chúng ta phải nhân đạo chứ, thưa ông hiệu trưởng. Chúa Giêsu đã không dạy:


- ” Hãy để con trẻ đến cùng ta, đừng ngăn cấm chúng” hay sao?


– Hunter đợi hiệu quả lời dẫn này thấm sâu vào. – Hơn nữa, bố đứa bé là một người sinh trưởng ở nước Anh thuộc một gia đình rất danh giá kia mà!


Hunter tin chắc ở kết quả cuộc họp, bởi vì y đã gặp trước những thành viên trong ban quản trị đáng tin cậy và chắc chắn được họ ủng hộ. Hơn nữa, y cố tình sắp xếp việc đó vào cuối chương trình họp dài lê thê, khi mọi người đã mệt nhoài và nhấp nhỏm muốn về nhà.


Khi vấn đề đó cuối cùng được đưa ra, ông Thomas tuyên bố vắn tắt sẵn sàng nhận Anthony nếu ban quản trị đồng ý.


Có ít lời rì rầm, rõ ràng tỏ vẻ tán thành. Hunter gật đầu bằng lòng.


- Ja, ja, - y nói, - tôi cho rằng chúng ta không cần thiết cản trở vấn đề này. Thưa ông hiệu trưởng, chúng tôi đồng ý với ông. Cứ cho em bé đó vào học.


Trong ban quản trị còn có bà Pharerer , người tự cho mình là một nhân vật phụ nữ đáng kể đến ở thị trấn nhỏ bé này. Hăng hái trong việc bài trừ nạn rượu chè, bà ta vốn chống lại Hunter kịch liệt.


- Xin một phút, ông trưởng ban, - bà ta nói gay gắt, - tôi chưa có dịp trình bày ý kiến của mình. Nếu chúng ta nhận một đứa bé da màu vào trường, chúng ta sẽ phải nhận tất cả những đứa da màu khác. Tôi có thể đặt câu hỏi :



" Chúng ta sẽ dừng lại ở đâu? Tôi cho rằng, chúng ta phải tuân theo luật lệ bất di bất dịch về việc loại trừ nghiêm ngặt mọi đứa trẻ mang dấu vết thấp hèn về chủng tộc hoặc màu da này."



Hunter trừng mắt nhìn Pharader Lúc y nổi giận và phải nén lại, y có tật máy giật, các bắp thịt ở mắt trái của y giật giật. Tật đó xuất hiện lúc này, nhưng bà Phareder cho rằng Hunđơ đang cố xoa dịu mình, nên cảm thấy khinh bỉ :


- Ông Hunter, có phải vì cha đứa bé làm ở tiệm rượu của ông, mà chúng tôi phải cho nó vào học trường chúng tôi không?


- Hunter biết Pharadervẫn còn dò la khách sạn của mình vào các chiều thứ bảy nhằm báo cáo cho cảnh sát vài sự vi phạm luật lệ. Sự phản bội, thách thức và láo xược của Pharader quả là quá sức chịu đứng của y.


Y đứng dậy, đấm thật mạnh xuống bàn đánh rầm một cái.


- Tao là trưởng ban, - y rống lên – Mày lăng mạ trưởng ban. Câm mồm lại.
Y nhìn đầy vẻ hăm dọa, mặt Pharader tái nhợt. Ban quản trị tán thành cho Anthony vào học trường Stomhock .


- Đến đây, Anthony, bàn của em đây.


– Cô Nerderm vừa nói vừa dẫn Anthony tới một bên lớp học.


Anthony ngồi vào chỗ, đưa mắt nhìn quanh, đăm đăm ngắm chiếc bảng đen dựng trên giá, những chữ viết bằng phấn, các bức tranh lớn rực rỡ treo trên tường, chiếc súng cao su nhỏ bằng gỗ thò ra ngoài miệng túi đứa bé ngồi trước mặt, hai tấm bản đồ lớn treo gần cửa sổ, vết bẩn trên mặt thằng bé bên phải, các dãy bàn, hai đứa con gái đang thì thầm ở phía sau nó, những chậu cây ở trên bậu cửa sổ, thằng bé bên trái đang ngoáy mũi, và cái roi xoắn màu vàng ở góc phía sau mặt tủ sách có lắp kính.







Cô Nerderm là một phụ nữ thấp lùn, dáng be bè chắc nịch, tóc màu rỉ sắt, đeo kính không vành, mặt đầy tàn nhan li ti, màu vàng. Khi George đã về, cô giáo bèn đổi ngay thái độ.


- Các em lấy sách ra nào, - Cô gõ xuống bàn.


- Ngồi thẳng như mũi tên bên bàn học , Anthony làm theo thằng bé ngồi bên cạnh, cẩn thận giữ cuốn sách mở cùng trang.


Buổi sáng qua dần. Chẳng mấy chốc, chuông đã vang lên. Anthony, vụng về và bối rối, nhập vào làn sóng lũ trẻ, hưởng giờ ra chơi đầu tiên.




Được sửa chữa bởi phuongtim11 ngày Ba 3 21, 2017 11:21 pm; sửa lần 3.
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gởi tin nhắn
phuongtim11



Ngày tham gia: 30 3 2010
Bài gởi: 15941

Bài gởiGởi bởi: Ba 12 23, 2014 12:30 am    Tiêu đề:



CHƯƠNG 5



Một buổi tối, Mary ngồi trước gương, George hậu đậu xỏ chiếc sơ mi.


- Anh tự hỏi, không hiểu sao ông Hunter lại yêu cầu anh tiếp tục đi làm đêm nay. Ông ấy bảo sẽ cho anh nghỉ bù vào đêm thứ sáu. Có công việc quan trọng gì đó, ông ấy bảo thế. Dạo này, cùng một lúc ông ấy có nhiều việc phải làm.


Mary không quay đầu lại, mà đưa mắt liếc nhìn Georger trong gương. Với động tác mơn trớn, Mary thoa kem lên mặt.


- Gần đây, tính khí ông ta dịu đi rất nhiều – George tiếp – Dường như không quát tháo Ruby quá nhiều nữa. Cái xác ướp già nua đó đáng thương thật, bà ta luôn luôn lẻn vào quầy uống trộm nửa chai một.


- Anh cứ mãi luôn miệng nói về gia đình Hunter mới được hay sao, anh George? – Mary nói.


- Chúng ta đã tuân theo nếp sống mòn như vậy đây; chúng ta không có bạn bè, những người duy nhất anh nói đến là gia đình Hunter, lại vẫn gia đình Hunter.


- Nghĩ cho cùng là vì họ đưa lại miếng ăn hàng ngày cho chúng ta, cô em thân mến ạ.


George nhúng chiếc bàn chải vào trong nước, vuốt tóc cho mượt


- George, anh thân yêu, tóc anh đêm nay có màu vàng hoàn toàn.


- Những củ cà rốt đỏ hoe, Mary ơi, những củ cà rốt đỏ hoe mà. Quanh đây không có những con lừa, quả là may đấy.


George bước đến gần để hôn tạm biệt vợ. Mary không quay lại, mà kéo đầu George xuống bên cạnh đầu mình để hai người cùng nhìn vào tấm gương.


Bên cạnh cái nhan sắc màu nâu sẫm của Mary, Giogiơ có vẻ như một bức biếm họa màu đỏ khó chịu, vẽ một người đàn ông, anh quay mặt đi, cười bối rối.


- Anh Georgeơi, - Meri hỏi, vẻ mặt đăm chiêu,


- Anh xem liệu chúng ta có bao giờ đi Anh được không?


George đứng dậy, hai tay Mary tuột khỏi người chồng.


- Không có cơ hội nào cả. Không có hy vọng mảy may nào cả. Họ hàng thân thích của anh không muốn nhìn thấy anh bằng bất cứ giá nào. Họ trả cho anh mỗi tháng mười lăm bảng Anh để anh ở đây xa cách họ, chẳng phải như thế là gì?


- Nhưng còn con cái anh? Họ sẽ nhận chúng hẳn chứ? Tận nước Anh, làm gì có thiên kiến chúng tộc.


- Thiên kiến có ở khắp nơi.


- Nhưng không nhằm chống lại người da màu, trừ ở đây thôi.


- Trời ơi, trời đất ơi, chúng ta lại trở lại chuyện đó.


- Em không bao giờ có thể chịu được khi nghĩ tới bất kỳ đứa con nào của em phải đi học ở trường da màu của Hội truyền giáo.






- Em đang nói gì thế ? Anthony chẳng phải đang đi học ở một trường da trắng à?


Mặt Mary rực lên, hầu như đang trong cơn sốt, chị đưa nhanh mắt từ bên này sang bên khác tránh ánh mắt George.


- Anh George, anh có nhận thấy chúng ta chịu ơn ông Hunter nhiều biết chừng nào không? Ông ấy đã đấu tranh để cho Anthony vào học.


- Vừa mới rồi em vẫn nói là không muốn chuyện trò về gia đình nhàHunter đấy thôi.


- Chúng ta phải biết ơn ông Hunter, anh thân yêu ạ. Chúng ta bao giờ cũng phải giữ được tình bạn của ông ấy, bởi vì, bởi vì… em lại sắp có con!


George đứng lặng người. Anh nhận thấy nếu thốt thêm bất kỳ lời nào thì cũng chỉ thấy nước mắt đáp lại mà thôi.


- Anh không bằng lòng với em à? – Mary hỏi, giọng thiết tha.


Chậm rãi, George gật đầu. Rồi anh ôm lấy vợ khi chị khóc.






Mary lắng nghe tiếng bước chân của chồng xa dần. Lúc đầu, sau khi không nghe thấy nữa, chị vẫn nhìn lơ đãng, mắt đăm đăm hướng về phía trước. Chị không định báo tin đó vào tối nay, giờ đây chị cảm thấy xiết bao ân hận. Chị muốn đợi một thời gian nữa, cho đến khi lương tâm chị bớt day dứt. Bởi vì, chị biết vì sao Hunter lại yêu cầu George làm việc đêm nay…


Chính vì Anthony , chị nhủ thầm giận dữ, chị đã để cho mọi chuyện diễn ra đến thế này. Cũng còn cả vì đứa con nằm trong bụng, con của George nữa. Từ khi biết mình có mang, chị héo hon, tiều tụy, chỉ sợ đứa thứ hai này có thể sẽ không được trắng trẻo.


Trong nỗi niềm tuyệt vọng, chị muốn bám lấy bất kỳ cái gì. Rồi Hunter đã cưỡng đoạt chị. Trông vào sự giàu có và thế lực của Hunter và sự thèm khát ngày một tăng của y, chị nghĩ rằng mình đã có được một tấm mộc để chống chọi với tương lai. Chị có thật sự trách cứ bản thân mình không? Đó là sự hy sinh vì tình mẫu tử, tình cảm dịu hiền nhất trong hết thảy.


Chị lau khô mắt và lại soi gương. Bằng động tác duyên dáng chậm rãi, chị bắt đầu chải những nạm tóc dài đen, óng ả và mượt mà của mình. Và rồi, chị xấu hổ, chị cảm thấy đầu vú ngưa ngứa.


Chị tắt đèn điện, thắp ngọn đèn dầu có ánh sáng ấm dịu, chống chọi với bóng tối.


Khi nghe thấy Hunter lẻn vào qua cửa sau, chị vẫn tiếp tục chải đầu, nhưng một nụ cười chào đón đã hiện ra trên mắt và môi.


Hunter lần mò đến sau Mary. Trong tấm gương, giờ đây bên cạnh khuôn mặt của Mary không phải hình ảnh nhạt nhẽo của George, mà là vóc dáng của một người đàn ông lực lưỡng.


- Tiểu thư Tây Ban Nha của anh, - Hunter thì thầm.

- Chào Otto, - Mary dịu dàng nói.


Hunter chậm rãi xoắn mái tóc huyền của Meri vào nắm tay to chắc của y và kéo Mary về phía mình. Y hôn Mary theo cách của riêng y, mà trước khi trao thân cho y, chị chưa hề biết.


Một tiếng gọi ngái ngủ từ buồng Anthony vọng ra.

- Mẹ ơi, con uống nước!

Mary lạnh điếng người.


- Lạy Chúa hãy tha thứ cho con, - Mary nhủ thầm khi luồn vào trong chiếc áo ngủ và nhón chân vào buồng Anthony.


Khi chị trở lại giường, Hunter đang ngáy ngon lành. Chị đứng phía trên người y với cảm giác ghê tởm đột ngột và nhìn đăm đăm xuống mái tóc cắt ngắn, cái đầu vuông vức, nốt mụn cóc to ở cằm Hunter, cái khổ người lực lưỡng của y. Đồng thời, chị cảm thấy kinh tởm bản thân mình. Không phải chỉ vì chị đã cho phép y làm tất cả cái chuyện bẩn thỉu này, bởi lẽ động cơ buộc chị phục tùng y là sự hy sinh, và chị không trách mình điều đó.



Điều làm chị giờ đây khinh bỉ thái độ của mình là chị nhận thấy rằng trong khi những mối liên hệ với Hunter, niềm thèm khát của bản thân chị đã tăng lên. Dần dần y đã làm tê liệt những nỗi ngại ngùng, những sự kiềm chế của chị và thức tỉnh những sức mạnh cơ bản tiềm tàng trong con người chị.


Chị yêu George tha thiết, nhưng sự ân cần của George là một phần trong cuộc đời mòn mỏi, chán ngắt, vỡ mộng của chị, thiếu hẳn vẻ lãng mạn và trí tưởng tượng. Mặt khác, Hunter, cường tráng và tàn nhẫn, mang lại cho chị nỗi sợ hãi, niềm kinh hoàng, sự thần phục và lòng say đắm.


Giống như một người nô lệ chèo thuyền bị cột vào cọc chèo, chị thoạt tiên mặc nhận, và rồi niềm nở hoan nghênh những xiềng xích mà y cột vào đời sống tình dục của chị.


Nhưng Mary không nhận thức được theo cách ấy. Lo âu và hoang mang bối rối, chị không có khả năng tự phân tích. Lúc này đây, khi đứng phía trên người đàn ông, kẻ có thể khiến cho số phận chị một là thành công hai là thất bại, chị đưa hai tay lên ôm lấy đầu. Chị cảm thấy cuộc sống thật vượt quá sức chịu đứng của chị.


Có đáng tiếp tục không? Con người cục súc này đã thỏa mãn dục vọng trên thân thể chị, đã lợi dụng nỗi bất hạnh của chị, tại sao y lại được phép xâm lấn sự thiêng liêng, bất khả xâm phạm thuộc gia đình của George, George của chị, người đàn ông duy nhất trong đời chị, cho đến khi chuyện đó xảy ra?






- Otto, - chị gọi cộc lốc khi cúi xuống, lay y, - Dậy đi, dậy đi ! Ông phải đi ngay. Sắp đến giờ đóng cửa tiệm rồi!


Trong cảnh yên lặng sau khi Hunter ra về, nỗi niềm ăn năn hối hận làm Mary nhớ tới những năm sống với George tới lần đầu tiên anh đến Stomhock sau khi giải ngũ để thử vận may ở các mỏ kim cương.


Chị nhớ lại ngày họ đưa anh ốm nặng từ dòng sông về khách sạn, do hậu quả của bệnh lỵ anh mắc phải trong chiến dịch Tây Nam Phi, và trầm trọng thêm do anh nghiện rượu; cuộc mỗ xẻ cắt bỏ chỗ áp xe ở gan, những tháng đằng đẵng chị nuôi nấng chăm sóc cho anh phục hồi lại.


George rất biết ơn chị, nhưng về phần mình, chị coi đó chỉ là bổn phận; xét đến cùng, chị không phải làm quản gia ở khách sạn ư? Và rồi đề nghị của Hunter về một chân bán hàng ở quầy rượu…


Nhớ lại những năm trước đó nữa, chị đến Stomhock, dạy học ở một trường nhỏ bé của nhà thờ, ngay tại ngoài hải cảng Elizabeth , việc học hành của chị tại trường sư phạm và trước đó nữa là những năm học trung học, thường phải ngồi xuống sàn nhà vì lớp học quá đông, và viết lên cuốn vở tì lên đầu gối.


Nếp nhà tranh nhỏ bé chị sống hồi thơ ấu có cây hồng leo và các cây dây leo và các cây dương xỉ trồng trong chậu. Lúc này chị có thể nhìn thấy rất rõ ràng mẹ chị tay đang cầm bình tưới. Và những này chủ nhật, chị và hai em trai thường ngồi với mẹ trong ngôi nhà thờ nhỏ bé của người da màu, cả mấy mẹ con mặc quần áo đẹp nhất, tự hào lắng nghe đức cha giảng bài thuyết giáo mỗi tuần…






Chị ước gì có thể triền miên thêm nữa trong quãng đời đó, được sống một lần nữa, làm một cô bé không tội lỗi, nhưng chiếc đồng hồ báo thức cũ kỹ ở cạnh giường đột nhiên réo to hơn, kéo chị trở về với gian buồng này, với đứa con của chị, với đứa bé còn đang nằm trong bụng và với việc chị đang lừa dối George. Và trong ánh tờ mờ của ngọn đèn dầu nhỏ bé, chị có thể nhìn thấy không phải quá khứ, không phải tương lai mà là hiện tại khủng khiếp, đáng sợ, có nhịp đập trái tim của nó, từ chiếc đồng hồ vang ra ầm ĩ, giờ đây tràn ngập đêm tối.



o0o



CHƯƠNG 6



Sau chuyện đó không lâu lắm, Hunter, ngồi ăn tối trong phòng ăn của khách sạn Đại Bàng. Ruby và y thường ăn sau mọi người trong nhà. Trong các bữa ăn, Ruby dọn cho chồng ăn rất ngon, và thực sự chỉ có mình chị ta nói những mẫu chuyện lôi thôi về đầy tớ, - những tội lặt vặt của các đầy tớ gái hoặc các lỗi nhỏ nhặt của anh bếp. Hunter chỉ dán mắt vào đĩa, thản nhiên ăn, làm như không có mặt vợ ở đấy.


Đêm nay, Ruby cũng im lặng như chồng. Nhưng sau khi nhìn Hunter chất lên cái đĩa gộp thành một món gồm xúc xích, khoai tây, cải tía, đưa lên cho vào mồm, chị đột nhiên lên tiếng.


- Đêm qua, anh đi đâu mà tôi không biết đấy!

Hunter ngừng nhai, nhìn vợ. Rồi y tiếp tục nhai chậm rãi.

- À, - y hỏi – thế thì làm sao?


- Ồ, chẳng sao cả. Chả là sáng nay có người kể tại bữa trà ở nhà bà Mơgrêgơ là đêm qua đã trông thấy anh ở phố nhà thằng George .


- Không nhớ, - y nói cộc lốc. – Công việc làm ăn bắt phải đi khắp nơi. Ồ phải rồi, tối qua đến đấy gặp gã thợ sơn Saimon.


Vẫn tiếp tục ăn, y nghĩ thầm:


Nguy hiểm đấy, Otto, nguy hiểm đấy. Một con chó cái đang bắt đầu đánh hơi khắp nơi. Nó không thể nào đã thấy mình lẻn vào hoặc ra khỏi nhà Mary được. Nhưng tại sao nó lại phải nói chuyện đó với Ruby ? Mình cắt đứt với Mary là được lắm rồi. Đứa con của nàng đến đúng lúc cho mình quá.


Rồi y lên tiếng:


- Cô nói đến phố nhà tay George làm tôi chợt nhớ đến vợ hắn… Cô ta tên gì nhỉ ? Đã lâu lắm rồi tôi không gặp cô ta.


- Cái con mụ da màu ấy à? Tên nó là Mary. Anh không nhớ ư? Anh thường thích đem so nó với tôi kia mà!


- À phải, Mary đúng rồi. Ờ, cô ta đang có mang. Tay George bảo thế.


- Thế à? Nó lại sắp đẻ chứ gì? Lớp da khô trên mặt Rubi hằn thành những nếp nhăn linh hoạt.


– Nó hẳn đang lo sốt vó lên. Chà, nó phải đau khổ lắm. Cứ nhớ lấy lời tôi, đứa bé này sẽ đen nhẻm!


- Bởi vì cô đã phán thế à? Sao cô độc thế ?


- Tôi chưa từng bao giờ đau khổ ư? Tôi không biết đau khổ là thế nào? Hãy để cho đến lượt nó cũng phải đau khổ.


Cười khẩy, Ruby đứng lên đi vào buồng ngủ của mình. Hunter nhìn theo ghét cay ghét đắng.


Đứa con thứ hai, cũng là con trai, ra đời vào ngày tháng bảy lạnh lẽo, nhưng nắng ráo. Tuy nước da nó có màu sáng nhưng tuyệt nhiên không mang chút hứa hẹn nào là sẽ trắng như thằng bé kia.


Trước hết, nó vàng rõ rệt.Mary biết điều đó có nghĩa là gì; và ngày tháng trôi qua, nước da nó lại thẫm thêm, không còn nghi ngờ gì nữa: nó là một đứa bé da màu, và ở Nam Phi thì bao giờ nó cũng là da màu.


Đó là một đứa trẻ trông mà não lòng. Có những lúc Meary yêu nó. Có những lần lòng đầy thương xót chị ngắm nghía nó, đứa con rồi sẽ khốn khổ của một người mẹ khốn khổ.


Cũng có lúc chị đảo mắt từ gương mặt cởi mở, trắng trẻo của Anthony, nhìn sang cái mảnh nhỏ màu nâu này, và nhận thấy trong những năm tới đây nó sẽ trở thành một cơn ác mộng đối với đứa anh. Rồi chị cảm thấy rằng, giống như vợ Mark, chị có thể đạp nó xuống đất. Thường thường, chị chỉ nhìn nó mà khóc, những mối xúc cảm của chị nghẹn mãi thành vẻ lãnh đạm thẫn thờ và đứa bé đăm đăm nhìn lại mẹ, đôi mắt dần dà biết chăm chú.


Những ngày tiếp theo thật ảm đạm. Cái trứng khi chín tách khỏi vô số tế bào trong buồng trứng im lìm, đã chứ trong nó các gien màu da; ở Nam Phi, các gien này gây chết đối với tinh thần hệt như bệnh ưa chảy máu đối với cơ thể. Chính cái trứng xấu số này bắt gặp điều kỳ diệu của sự thụ thai và làm sụp đổ cái thiên đường mà Mary đã xây đắp xung quanh Anthony.






Mary gầy đi, những nét nhăn lo lắng bắt đầu hình thành ở khoảng giữa hai mắt. Tâm trạng khốn khổ của chị làm cho sữa chị độc và đứa bé khóc ngằn ngặt. Chẳng có khách khứa nào, da trắng hoặc da màu đến thăm cả. Vẫn chỉ là George đi làm về với vẻ mặt lo sợ quen thuộc, vì anh khiếp sợ cả những lời than trách tuyệt vọng lẫn sự im lặng cay đắng của vợ. Anh thấy vợ dường như sạm đen hơn, và hay đánh phấn hơn.


Một hôm, anh bảo vợ:

- Anh thật không biết việc gì mà em cứ phải rối rít lên thế. Đứa bé không đen quá đâu mà.

- Gì cơ? Chao ôi, anh George


– Những lời Mary thốt ra đầy vẻ trách móc âm thầm.


- Nó không đen quá đâu mà? Anh nói thế đấy, nhiều người Âu cũng đen; rám nắng và kiểu như… em biết đấy… - Câu nói của George bỏ lửng.


Vụng về, anh bế đứa bé đang nằm ở giường củi lên, âu yếm ôm bế nó.
Những ngày và những tuần tiếp theo, anh cố dùng mọi lý lẽ, mọi cách dối trá, mọi lời ngụy biện để an ủi vợ. Anh tin chắc thời gian sẽ làm dịu đau khổ. Marysẽ dần dần tự chủ được. Anh hy vọng tình thương yêu mà anh cố dành thật nhiều cho chú bé Steve sẽ dần dần lay chuyển được vợ anh. Tuy vậy, sau một thời gian dài anh mới chỉ thành công đôi chút.


Một đêm Mary bảo:


- Anh Georg ơi, em chẳng được cái tích sự gì cả. Em chỉ mang lại cho anh toàn những điều khốn khổ.


- Anh van em đừng có ngốc nghếch thế nữa. Em biết rất rõ là em có ý nghĩa lớn lao đối với anh như thế nào và em đã làm những gì cho anh. Giá hồi ấy không có em thì…


- Vâng, vâng, vâng, anh George, em biết điều đó. Nhưng giờ đây, với đứa bé… Dường như anh chẳng thấy chuyện gì xảy ra cả. Thằng Anthony sẽ lớn lên như một đứa trẻ da trắng… nó sẽ có một đứa em ruột da màu. Anh không thấy chuyện đó có nghĩa gì ư? Đứa con da trắng của em sẽ bị ám ảnh suốt đời. Chao ôi, lạy Chúa! – Trong khi nói, mắt Mary không lúc nào rời khỏi khuôn mặt chồng.


Khi George thấy tâm trạng thất vọng chán nản của vợ tỏ ra ít có dấu hiệu dịu đi, anh bắt đầu tự hỏi sự kiên trì cố gắng an ủi vợ của anh phỏng có ích gì không.


Một buổi chiều về nhà ăn uống và nghỉ ngơi, anh thấy vợ ủ rũ như kẻ mất hồn. Thần kinh anh căng thẳng. Anh cố lờ đi và cứ bước nhởn nhơ trong nhà, ngâm ngợi một khúc hát đơn điệu.


- Mary, em thân yêu, gạt bỏ chuyện đó đi, - anh lên tiếng đột ngột. – Em đang lâm vào một ca bệnh lý, đúng như vậy đấy.


Mary không trả lời, George lắc đầu, ra khỏi nhà.


Trở lại làm việc, anh ngồi phía sau quầy. Đó là giờ yên tĩnh, khách sạn Đại Bàng vắng vẻ. Anh ngả chiếc ghế đang ngồi để nó đứng trên hai chân sau, nhưng anh nhô đầu về phía trước, đủ để giữ thăng bằng. Hai tay đút sâu vào túi quần, anh rít lấy rít để tẩu thuốc


Anh ngẫm nghĩ về cảnh ngộ mình và cảm thấy khốn khổ. Đứa bé da màu này, đối với nó chỉ có thể có một cách thôi, vì nó là da màu. Vợ anh đang héo hon gầy mòn vì tuyệt vọng. Bạn bè anh ở quầy rượu hoặc chỉ đả động chút ít, hoặc chẳng nói gì đến đứa con thứ hai của anh; những lời chúc mừng nồng nhiệt vào lần sinh Anthony thì lần này không có. Hẳn tất cả bọn họ đều đã nghe biết chứ. Trong một thị trấn nhỏ bé như ở đây, mọi chuyện lan ra rất nhanh.


Thuốc lá trong tẩu đã cháy hết. Anh ngả người bấp bênh về phía sau để đập nỏ tẩu vào tường xi măng, tro xám rơi xuống nền nhà bằng đá.


Anh lại nhồi đầy thuốc vào tẩu. Dạo này anh hút thuốc dữ quá mức, nhưng làm thế nào khác được? Anh không dám uống rượu. Tất cả những năm tháng qua, từ khi bác sĩ báo trước cho anh biết sự nguy hiểm, anh không động đến một giọt rượu nào. Chậm rãi, anh hướng đôi mắt xanh nhạt tới dãy chai trên các giá. Rượu vang, brandy, whisky. Những mao mạch ở má anh giãn nở ra vì máu dồn bất thường. Anh đã lại thấy cái cảm giác ấm áp, giải thoát và nhẹ nhõm.


Anh đứng dậy, lưỡng lự. Chậm rãi, anh với lấy một chiếc cốc nhỏ. Cổ họng khô và nghẹn lại, tay anh run run khi anh lấy một chai whisky xuống.


Anh gói chai rượu vào tờ báo, ấn nó vào phía trước quần, rồi đóng khuy áo khoác ngoài lại.


- John này, - anh gọi to gã thổ dân giúp việc, - trông coi tiệm rượu nhé. Lúc nào ông chủ về, thưa với ông chủ tôi ốm, về nhà rồi.


Khi loạng choạng bước qua cửa, anh lẩm bẩm một mình:


- Sống chỉ có một lần, còn chết là mãi mãi. Một lão chủ bủn xỉn; một con vợ ca cẩm; rồi hầu hạ thiên hạ suốt ngày, chỉ ngửi mùi rượu, chẳng bao giờ được nếm; so với mình, đến một thằng Caphia cũng còn sướng như vua.


Anh đi về phía thảo nguyên, dừng lại dưới bóng râm của một cây keo Nam Phi.

Khi đã cách xa mọi người, anh bắt đầu nói to một mình:

- Mary loạn trí rồi! Khổ thân thằng Steve bé bỏng!


Một khi đã nếm lại rượu, anh giống như con cá mập đánh hơi thấy mùi máu.


Chai rượu cạn sạch, anh lảo đảo bước về nhà.


Mary ngước lên sợ hãi khi George mở tung cửa và đi vào đứng sững lại giữa phòng.


Anh đứng đó nghiêm trang dường như đang vật lộn với một vấn đề lớn lao. Đột nhiên, cơ thể anh mất thăng bằng, hai chân anh cử động như muốn chạy, rồi anh ngã bật ngửa, đầu đập mạnh xuống nền nhà.


Ngày hôm sau, anh không đi làm được.


Việc bất ngờ làm Marychoáng váng và hãi hùng. Khi hồi tỉnh, George tránh ánh mắt Mary. Mary không nói gì, nhưng quyết định từ giờ sẽ cố vui vẻ và chấm dứt chuyện mè nheo, ca cẩm.


George có thể uống rượu say bí tỉ cho đến khi thân tàn ma dại hoặc đến chết. Hoặc anh có thể vẫn giữ điều độ, không uống rượu và nhận thấy gánh nặng thiên kiến quá ư khó chịu trở thành nỗi mệt mỏi chán chường do ràng buộc với một phụ nữ da màu.




Được sửa chữa bởi phuongtim11 ngày Ba 3 21, 2017 11:23 pm; sửa lần 1.
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gởi tin nhắn
phuongtim11



Ngày tham gia: 30 3 2010
Bài gởi: 15941

Bài gởiGởi bởi: Tư 12 24, 2014 2:19 am    Tiêu đề:

Arrow
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gởi tin nhắn
Trình bày bài viết theo thời gian:   
Gởi bài mới   Trả lời chủ đề nầy    Diễn Đàn MẪU TÂM -> GÓC ĐỌC & NGHE TRUYỆN ONLINE Thời gian được tính theo giờ Việt Nam PST (U.S./Canada)
Chuyển đến trang 1, 2, 3 ... 13, 14, 15  Trang kế
Trang 1 trong tổng số 15 trang

 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gởi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn
|   Register   |   Tin nhắn riêng   |   Đăng Nhập

Powered by -php_BB- Copyright © mautam.net, 2005. All Rights Reserved