VƯỢT BIÊN VÌ MẤT NIỀM TIN VÀ KHÁC QUAN ĐIỂM ❤️ ❤️ ❤️
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3 ... 123, 124, 125 ... 127, 128, 129  Trang kế
 
Gởi bài mới   Trả lời chủ đề nầy    Diễn Đàn MẪU TÂM -> TIN TỨC VĂN NGHỆ - THỜI SỰ HẢI NGOẠI
Xem chủ đề trước :: Xem chủ đề kế  
Tác giả Thông điệp
phuongtim11



Ngày tham gia: 30 3 2010
Bài gởi: 15823

Bài gởiGởi bởi: Sáu 4 05, 2019 7:48 am    Tiêu đề:



CHUYỆN MỘT NGƯỜI MANG TÊN NGUYỄN THỊ DI TẢN






Tên tôi là Nguyễn thị Di Tản. Cái họ Nguyễn của tôi đã chứng tỏ tôi là người Việt Nam chính hiệu con nai vàng. Song có điều tôi là đứa bé Việt Nam chào đời ở một miền đất lạ xa – đảo Guam – một nơi chốn thật lạ lẫm với quê hương tôi.

Theo lời mẹ tôi kể tôi chào đời vào những tháng ngày buồn thảm nhất của miền Nam Việt Nam. Tôi đã nằm trong bụng mẹ, theo mẹ trên con đường di tản của dân tộc tôi.

Tôi đã là một chứng nhân của lịch sử. Tiếng khóc chào đời của tôi ở một quần đảo nơi quê người đã giúp mẹ tôi nhiều can đảm vượt qua những thử thách, gian truân của cuộc đời.






Tôi đã là Nguyễn Thị Di Tản từ ngày ấy. Thế mà đã hơn một phần tư thế kỷ kể từ 30 tháng 4 năm ấy. Thế mà đã 35 năm qua…

Đã 35 năm qua. Tôi đã lớn. Đã trưởng thành nơi miền đất tạm dung của một tỉnh lỵ miền Tây Canada. Thành phố Winnipeg buồn hắt hiu như tâm sự “Người di tản buồn” của mẹ.

Mẹ rất yêu bản nhạc “Người di tản buồn” của Nam Lộc. Ngày còn bé, bằng bài hát ấy mẹ đã ru tôi ngủ. Riết rồi tôi quen với từng lời ca tiếng nhạc. Mẹ bảo đêm nào không nghe bài hát ấy tôi không ngủ. Đến lúc tôi bập bẹ biết nói mẹ dạy tôi hát. Tôi vừa quấn quít bên mẹ vừa đỏ đẻ hát:

Chiều nay có một người đôi mắt buồn

Nhìn xa xăm về quê hương rất xa

Chợt nghe tên Việt Nam ôi thiết tha

Và rưng rưng lệ vương mắt nhạt nhòa

Bạn ơi đó là người di tản buồn

Ngày ra đi lặng câm trong đớn đau.

Rồi đêm khuya hằn lên đôi mắt sâu

Thời gian đâu còn những phút nhiệm mầu

Cho tôi xin lại một ngày, ở nơi nơi thành phố cũ

Cho tôi xin lại một đời, một đời sống với quê hương

Cho tôi đi lại đoạn đường, hàng cây vươn dài bóng mát

Cho tôi yêu lại từ đầu, bên người yêu dấu ngày xưa

Chiều nay có một người di tản buồn

Nhìn quê hương còn ai, hay mất ai ?

Còn bao nhiêu thằng xông pha chiến khu ?

Và bao nhiêu nằm trong những lao tù ?

Ở đây có những chiều mưa rất nhiều !

Nhiều hơn khi hành quân trong tháng mưa

Buồn hơn khi rừng khuya vang tiếng bom

Ngày vui ơi giờ đâu nước không còn

Cho tôi xin lại một lần, ở nơi tôi dừng quân cũ

Cho tôi xin lại bìa rừng, nơi từng chiến đấu bên nhau

Cho tôi xin một lời chào, chào bao nhiêu người đã khuất

Cho tôi xin một mộ phần, bên ngàn chiến hữu của tôi !

Tôi hát như sáo. Mẹ hát sao tôi hát theo vậy. Mẹ bằng lòng lắm. Dần dà tôi có thể hát được cả bài. Bạn bè của mẹ đến nhà chơi mẹ, đem con sáo của mẹ ra khoe. Mẹ bắt tôi hát. Mỗi lần hát xong các bác các cô, bạn của mẹ ai cũng đều rươm rướm nước mắt. Có lần tôi thỏ thẻ hỏi mẹ :

– “ Sao con hát hay mà mẹ với các bác lại khóc ”.

Mẹ ôm tôi vào lòng và nói

– “ Bao giờ con lớn con sẽ hiểu tại sao ”.

Cái trí óc non nớt ngày ấy của tôi mơ hồ cảm nhận có một điều gì khác thường ở mẹ, một cái gì mất mát lớn lao trong đời mẹ. Những lúc rảnh rỗi, sau giờ cơm chiều mẹ dạy tôi nói, tôi đọc:

– Con là người gì ?

– Dạ thưa con là người Việt nam

– Con tên gì ?

– Con tên là Di Tản

– Con có yêu nước Việt Nam không ?

– Con yêu Việt Nam lắm !

Tôi đã thuộc nằm lòng những câu mẹ dạy. Tôi đã quen thuộc với cái tên Di Tản. Tôi thấy tên tôi nó ngồ ngộ, dễ thương làm sao.






Đến lúc tôi lên năm, mẹ dắt tôi đến một ngôi trường tiểu học ở gần nhà để ghi tên đi học. Từ ngày còn bé tôi chỉ loanh quanh ở cái apartment mẹ ở mà thôi. Chung cư nầy đa số là người Việt nam. Lần đầu tiên đến trường, một khung cảnh mới, người mới. Các học sinh cùng lớp với tôi hoàn toàn là những khuôn mặt lạ xa.


Cô giáo cũng thế. Không giống mẹ. Không giống các bác, các cô đến chơi nhà mẹ. Lúc mẹ chào cô giáo ra về. Tôi ở lại trường với tâm trạng thật lạc lõng, bơ vơ. Tôi muốn khóc. Tôi muốn theo mẹ ra về làm sao. Tôi ngồi cô đơn một góc lớp.

Cô giáo rất trẻ, đến bên tôi nhỏ nhẹ hỏi : – “What is your name ? ”.

Tôi cúi mặt, bặm môi chừng như rướm máu, lí nhí đáp bằng cái giọng Việt Nam đặc sệt “Dạ .. Di Tản”.

Cô giáo chừng như không hiểu, cô xem lại quyển sổ và hỏi lại tôi- “your name is Đaithen”.Tôi lắc đầu và lập lại- “Di Tản”.

Cả lớp rộ lên cười. Tôi bật khóc. Tôi khóc ngon lành như bị ai ức hiếp.Sau buổi học, mẹ đến đón tôi về. Trên suốt quãng đường từ trường về nhà Tôi lặng thinh, không nói một điều gì cả với mẹ. Mẹ âu yếm hỏi tôi :

– “ Con đi học có vui không ”.

Chừng như tôi chỉ chờ mẹ hỏi, Tôi òa lên khóc và bảo :

– Sao mẹ không đặt cho con một cái tên nào dễ kêu như Helen, như Cindy hay Linda như tụi nó mà mẹ đặt tên con là Di Tản. Cô giáo đọc không được tên con, mấy đứa cùng lớp tụi nó chọc ghẹo con.

Mẹ tôi dịu dàng, từ tốn bảo :

– Con có biết cả nước Canada nầy có biết bao nhiêu là Helen, là Cindy không con. Còn tên Di Tản chỉ có mỗi một mình con. Con không thấy con đặc biệt sao con. Con phải hãnh diện vì cái tên rất là Việt Nam của con mới phải.

Tôi nũng nịu pha một chút hờn dỗi :

– Mà cô giáo đọc là Đaithen mẹ thấy có kỳ không ?

Mẹ trìu mến đưa tay vuốt tóc tôi, hiền hòa khẽ bảo :

– Tại cô giáo không biết cách phát âm của ngươì Việt Nam mình đó thôi. Con phải đọc lại cho cô biết rồi từ từ cô sẽ đọc đúng.

Giọng mẹ thiết tha hơn, chùng xuống, sũng đầy nước mắt.– Mẹ đã mất tất cả rồi con ơi. Mẹ chỉ còn cái tên Việtnam mẹ gửi cho con. Con có biết như thế không ?

Đầu óc của một đứa bé lên năm làm sao tôi hiểu được hết những gì mẹ nói, song tôi biết mẹ buồn lắm. Có một cái gì làm cho mẹ khổ tâm lắm. Tôi cảm thấy ân hận. Tôi ôm mẹ, hôn me, và bảo :

– Con xin lỗi mẹ. Con làm mẹ buồn lắm phải không mẹ.Tôi thấy mắt mẹ long lanh ngấn lệ.

– Không phải đâu con, con của mẹ ngoan lắm .

Đó là câu chuyện ngày lên năm của tôi. Mãi cho đến những năm sau nầy tên tôi vẫn là một đề tài cho lũ bạn chọc ghẹo . Cái chọc ghẹo cho vui chứ không có một ác ý nào cả . Lúc tôi vào Highschool tôi đã lớn lắm rồi. Tôi đã hiểu những u uất của đời mẹ. Tôi thương mẹ hơn bao giờ hết .





Thấm thoát mà tôi đã là cô gái 18. Soi gương tôi cũng biết mình đẹp lắm . Mẹ không cho tôi cắt tóc ngắn . Cả trường con gái mái tóc dài chấm lưng với khuôn mặt Á Đông của tôi vẫn là một đề tài nổi bật nhất .

Lại thêm cái tên Di Tản nữa. Lúc nầy tôi không còn buồn mỗi lần bị giáo sư đọc trật tên. Bạn bè tôi, những đứa quen nhau từ lớp mẫu giáo đến giờ được tôi huấn luyện cách phát âm nên đọc tên tôi đúng lắm. Tụi nó bỏ dấu còn lơ lớ nhưng tạm được.

Nhưng mỗi lần bắt đầu một niên học mới, tên tôi lại là một tràng cười cho lũ bạn cùng lớp mỗi khi các giáo sư mới gọi tên tôi. Giáo sư nào cũng thế. Ngập ngừng một hồi lâu rồi mới đọc.

Tôi cũng không nín cười được cái giọng như ngọng nghịu của một giáo sư người Canada đọc một cái tên lạ quơ lạ huắc chưa bao giờ thấy và gặp trong lịch sử dân tộc.

Trên tay cầm bài Test của tôi, ngập ngừng rồi vị thầy gọi “Đai then”. Cả lớp ồ lên một loạt “Oh, my god”.

Vị giáo sư lúng túng, đảo mắt nhìn quanh lớp. Cả lớp nhao nhao lên như bầy ong vỡ tổ. Chừng như tụi nó thích những dịp như thế để câu giờ, “nhứt quỉ, nhì ma, thứ ba học trò” mà. Con Linhda ngồi cạnh, hích nhẹ cùi chỏ vào tôi và khẽ bảo :

– Ditan, ổng đọc sai tên mầy rồi kìa, mầy sửa cho ổng đi.

Tôi đỏ mặt. Tôi chưa kịp nói gì cả thì tụi con trai ngồi sau lưng tôi ào ào lên như chợ nhóm “Ditản, Ditản not Đai then”. Vị giáo sư lúc đó mới vỡ lẽ ra, mới biết là mình phát âm sai, ông gục gặt đầu nói lời xin lỗi và lập lại “Ditản Ditản”.

Lúc nầy tôi không còn nhút nhát như ngày xưa nữa. Bạn bè tôi Tây Tàu, Canadian nữa đều “cứu bồ” tôi mỗi lần có tình trạng như trên vừa xảy ra. Dần dà mọi người gọi tên tôi rất ư là dễ thương. Đến bây giờ nhớ lại những lời mẹ nói với tôi ngày nào, tôi hãnh diện vô cùng về cái tên mẹ đã cho tôi. Tôi thương mẹ vô cùng.






Cái đất nước Việt Nam khổ đau muôn chiều đã gắn liền với mẹ tôi như hình với bóng trong cuộc đời lưu lạc xứ người hơn một phần tư thế kỷ.Một điều mà tôi có thể khẳng định rằng “dù hoàn cảnh có thể tách rời mẹ ra khỏi quê hương, nhưng không có một hoàn cảnh nào tách rời quê hương ra khỏi tâm hồn mẹ được”.

Mẹ sống như chờ đợi, như mong mỏi một điều gì sẽ đến. Có lần tôi bắt gặp mẹ ngồi một mình trong đêm, tay mân mê, vuốt ve bức ảnh bán thân của bố tôi. Mẹ vẫn nuôi hy vọng Bố còn sống và sẽ có lần gia đình tôi laị đoàn tụ như xưa. Nhưng định mệnh đã an bài. Sau khi nhờ một người bạn làm ở Usaid đưa mẹ con tôi di tản. Bố hứa Bố sẽ gặp lại mẹ sau.

Trong lúc dầu sôi lửa bỏng Bố bảo sao, mẹ nghe vậy. Một mình mẹ bụng mang dạ chửa mẹ đã lên phi cơ, theo đoàn người di tản và mong có ngày gặp lại Bố.

Nhưng niềm hy vọng đó đã vơi dần theo năm tháng cho đến một ngày mẹ được tin Bố đã nằm xuống nơi trại cải tạo.

Mẹ như điên loạn.

Rồi mẹ tỉnh lại.

Mẹ biếng cười, biếng nói.

Cuộc sống của Mẹ đã thầm lặng bây giờ càng thầm lặng hơn xưa.

Ngoài giờ ở sở. Về nhà cơm nước xong, trò chuyện với tôi đôi lát rồi Mẹ vào phòng. Cái khoảng đời quá khứ ngày xưa. Những kỷ niệm ngọc ngà ngày nào của Bố và Mẹ như chút dấu yêu còn sót lại. Thời gian không làm nhạt nhòa mà ở Mẹ không một hình ảnh nào mà Mẹ không nhớ.

Mỗi lần nhắc tới Bố, Mẹ như trẻ lại. Mắt Mẹ long lanh ngời sáng. Mẹ kể cho tôi nghe chuyện tình của cô sinh viên Văn khoa với chàng thủy thủ Hải Quân.





Tôi thuộc nhiều bài hát Việt Nam lắm nên tôi ghẹo Mẹ “Mẹ và Bố giống em hậu phương còn anh nơi tiền tuyến quá”. Ngoài tình mẹ con ra, tôi như một người bạn nhỏ để Mẹ tâm sự, để Mẹ trang trải nỗi niềm nào là “con biết không Bố hào hoa và đẹp trai lắm… v.v… và v.v…

Tôi nịnh Mẹ :

– Bố không đẹp trai làm sao cua được Mẹ.

Mẹ cười thật dễ thương.

Một điều mà tôi biết chắc chắn rằng không ai có thể thay thế hình bóng Bố tôi trong tim Mẹ.

Tôi không ích kỷ. Song điều đó làm tôi yên tâm hơn. Tôi muốn cùng Mẹ nâng niu, giữ gìn những kỷ niệm dấu yêu, ngọc ngà của Mẹ và Bố cho đến suốt cuộc đời.

Hôm nay nhân ngày giỗ lần thứ 35 của Bố. Con muốn thưa với Bố một điều. Con cám ơn Bố Mẹ đã tạo cho con nên hình, nên vóc. Dù chưa một lần gặp mặt Bố. Dù bây giờ Bố đã nằm xuống. Bố đã đi thật xa, không có lần trở lại với Mẹ, với con. Song với con Bố vẫn là một hiện hữu bên con từng giờ, từng phút.

Con nghĩ Bố đã che chở Mẹ con con hơn một phần tư thế kỷ nay. Xin Bố hãy giữ gìn, che chở Mẹ, con trong suốt quãng đời còn lại.

Con mong làm sao ngày nào đất nước thật sự thanh bình Mẹ sẽ đưa con trở về thăm lại quê hương. Con sông xưa sẽ trở về bờ bến cũ. Ngày ấy ở một phía trời nào đó của quê hương con thấy bố mỉm cười và Bố nói với con… Bố sung sướng lắm, con biết không ? Con yêu dấu !

Hoàng Thị Tố Lang

Đất khách Tháng Tư 2010


Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gởi tin nhắn
phuongtim11



Ngày tham gia: 30 3 2010
Bài gởi: 15823

Bài gởiGởi bởi: Bảy 4 06, 2019 5:25 am    Tiêu đề:



CÁI ĐÓI KHÔNG THỂ NÀO QUÊN ĐƯỢC CỦA THỜI BAO CẤP Exclamation Exclamation Exclamation




Nhiều người trong chúng ta ở đây có lẽ được sinh ra khi miếng cơm manh áo đã không còn phải là vấn đề.
Nhưng bạn biết không, ở thời bao cấp - cái thời “cơm khôn

Nhiều người trong chúng ta ở đây có lẽ được sinh ra khi miếng cơm manh áo đã không còn phải là vấn đề. Nhưng bạn biết không, ở thời bao cấp - cái thời “cơm không đủ no, áo không đủ mặc”, thời cầm tem phiếu xếp hàng dài chờ đợi,
thời mà chỉ cần nghĩ lại thôi cũng khiến người ta thấy ớn lạnh…

Cảnh mua bán tại một quầy hàng mậu dịch Nhà nước. Ảnh: Internet





Thời bao cấp với niềm mơ ước sinh tồn “Ăn no mặc ấm”
thay vì “Ăn ngon mặc đẹp”


Ở thời nay,
ăn mặc “sành điệu”, ăn uống “sành điệu”, chọn nhà hàng nào, thời trang nào… là thứ mà mọi người phải đau đầu suy nghĩ, “ăn ngon mặc đẹp” chính là điều người ngày nay theo đuổi.

Nhưng cách đây 30, 40 năm, vào những năm 70, 80 của thế kỷ 20, các thế hệ người Việt chỉ ước ao đủ ăn đủ mặc.
Cái đói trường kỳ gặm nhấm tâm can và dạ dày khiến mọi suy nghĩ của một ngày chỉ xoay quanh vấn đề miếng ăn.


THẾ NÀO LÀ THỜI BAO CẤP Question




Thời bao cấp, với cách gọi nôm na trong người dân là “thời đặt gạch xếp hàng”, diễn ra từ năm 1957 tại miền Bắc, tới sau tháng 4/1975 thì triển khai trên toàn quốc, mãi tới 4/1989 mới thực sự kết thúc. Giai đoạn này nằm trong ký ức không thể quên của thế hệ đầu 8X, 7X, 6X…


Đây là một giai đoạn mà hầu hết hoạt động kinh tế diễn ra dưới nền kinh tế kế hoạch hóa do nhà nước kiểm soát, một đặc điểm của nền kinh tế theo chủ nghĩa cộng sản, không chấp nhận kinh doanh tự do.







Câu thơ Kiều chế thời đó là một mô tả sinh động về thời bao cấp:


Bắt ở trần phải ở trần

Cho may-ô mới được phần may-ô


Áo may ô thời bao cấp đây! Mỗi năm được 2 chiếc !







Đối với các bạn trẻ hiện nay, làm sao có thể tưởng tượng được áo may-ô, một loại áo lót dùng cho nam giới, cũng thuộc loại hàng hóa cung cấp cho “nhân dân”. Vì thế mới gọi là… bao cấp .

Từ điển tiếng Việt của tác giả Hoàng Phê giải thích về định nghĩa “bao cấp”:



“Bao cấp là cấp phát phân phối, trả công bằng hiện vật và tiền mà không tính toán hoặc không đòi hỏi hiệu quả kinh tế tương ứng”.



Đối với người dân, định nghĩa này đơn giản là:


Bao cấp là tất cả đều do nhà nước đứng ra bao hết, từ cây kim, sợi chỉ, que diêm cho đến lương thực hằng ngày…
Lương hàng tháng của công chức nhà nước chỉ nhận được một phần tiền rất nhỏ, còn lại quy vào hiện vật thông qua chế độ cấp phát tem phiếu và sổ gạo.






Tất cả mọi hình thức kinh doanh đều được quản lý theo ‘mô hình xã hội chủ nghĩa’, hoàn toàn do nhà nước nắm giữ.


Nhà nước phân phối vài chục mặt hàng thiết yếu cho cuộc sống như gạo, thực phẩm, chất đốt, vải vóc, pin, cho đến các tiêu chuẩn phân phối được mua bổ sung như xà phòng giặt, giấy dầu, xi măng, khung, săm, lốp xe đạp…


CÁI ĐÓI ĐẾN " MỜ MẮT " THỜI BAO CẤP


Vì sao được nhà nước lo cho toàn bộ mà lại đói ?


Toàn bộ nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm và nhu thiết yếu cuộc sống là thông qua chế độ tiêu chuẩn tem phiếu có định mức cho từng đối tượng.
Điểm đặc biệt là định mức này chỉ đáp ứng một phần cực nhỏ nhu cầu sinh tồn của 1 con người, cho nên mới tạo thành cái đói dai dẳng và trường kỳ tháng này qua năm khác.


Điển hình là một người dân tự do được tiêu chuẩn 1,5 lạng (150gr) thịt/tháng, tương đương với mức tiêu thụ thịt trung bình trong 1 ngày hiện nay của người trưởng thành.


Các cấp bậc cán bộ nhà nước được tiêu chuẩn cao hơn,
từ 3-5 lạng/tháng (300gr-500gr), tùy cấp bậc.


Thông thường nếu chọn thịt thì thôi mỡ, vì chỉ được chọn 1 trong 2. Thời đó không có dầu ăn, phải dùng mỡ để xào, nấu nên mỡ rất quý.
Các gia đình vì vậy thường hay chọn “mỡ” thay vì “thịt”, như vậy sẽ có tích cóp được 1 hũ mỡ dùng để chiên xào nấu một thời gian dài hơn là 3 lạng thịt tiêu chuẩn trong tháng.


Tuy nhiên, cán bộ cao cấp lại có tiêu chuẩn gấp 40 lần “nhân dân”:

- 6kg thịt/tháng.

Nhiều người cũng thắc mắc vì sự chênh lệch quá lớn này.







Rau có tiêu chuẩn 3-5kg/người/tháng, trong khi nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể cần từ 300gr-500gr/ngày.


Em bé dưới 1 tuổi cũng đói,
vì tiêu chuẩn của em tất cả là 4 lon sữa đặc có đường “Ông Thọ” trong 1 tháng. Nên mới có cảnh các em bú “nước đường”, một điều mà thời nay dường như không thể tin nổi. Nếu mẹ của các em có giấy tờ chứng minh mất sữa hoàn toàn, thì em bé có khả năng sẽ nhận được 8 lon.


Thậm chí có tiền vẫn phải chịu đói… vì không ai dám bán để mà mua !







Hàng hóa thời đó không được mua bán tự do trên thị trường như bây giờ, không được phép vận chuyển tự do hàng hoá từ địa phương này sang địa phương khác.



Trao đổi bằng tiền mặt bị hạn chế , nên có người thậm chí có tiền vẫn đói, vì không ai được phép “kinh doanh”.



Không có những cái tên mỹ miều như bây giờ là
“doanh nhân”, “hộ kinh doanh”, mà chỉ là “phe phẩy” hay “tư thương”, “chợ đen” … những từ mang hàm nghĩa rất tiêu cực và khinh miệt, nếu bị phát hiện sẽ bị công an bắt và tịch thu toàn bộ hàng hóa. “Siêu thị” hay “chợ” là những khái niệm gần như không tồn tại.


Câu nói “Có tiền mua tiên cũng được” ít nhất cũng không thể đúng ở thời bao cấp. Thời này, sổ gạo mới là thứ quan trọng nhất.


Mậu dịch viên thời bao cấp- nghề đáng mơ ước nhất thời bấy giờ, vì đảm bảo có đủ miếng ngon cho nhu cầu sinh tồn của gia đình, và có thể mang “quyền lực” phân phát này để làm mưa làm gió…. Exclamation








Từ sau 30/4/1975 – khi nền kinh tế đặc thù này áp dụng trên toàn quốc, những ai sống ở khu vực phía nam vốn quen với nền kinh tế tự do, chưa quen với cái “đói” trường kỳ của nền kinh tế bao cấp như ngoài bắc,
bỗng đột ngột chịu “đói” đến hoảng hốt !


SỰ THIẾU THỐN ĐI KÈM VỚI CHẤT LƯỢNG "THÊ THẢM "


Sự thiếu thốn cũng đi kèm chất lượng “thê thảm” :


- Gạo mốc xanh đen, gạo hẩm, bột mỳ mốc, rau vàng héo, thịt “bèo nhèo”
(phần thịt “ngon” đã được chia chác cho mậu dịch viên và những “mối quan hệ” quen thân của mậu dịch viên).


Gạo thiếu, gạo mốc đen nên cơm thường xuyên là những bữa cơm độn mỳ sợi mốc, bột mì tồn kho (viện trợ từ Liên Xô), sắn khô xắt lát, ngô (bắp), bo bo (hạt lúa mì) hay gạo vỡ (gạo tấm)


Thịt quá ít, có cũng như không, nên thường đổi thành mỡ, để có cái xào nấu rau ăn dần. (Thời đó không có dầu ăn như bây giờ, thi thoảng cũng chỉ có chút dầu lạc (dầu đậu phộng) hôi khét).

Những câu vè thời đó nói lên giá trị của những mặt hàng trong thời bao cấp :


Nhất gạo nhì rau

Tam dầu tứ muối

Thịt thì đuôi đuối

Cá biển mất mùa

Đậu phụ chua chua

Nước chấm nhạt thếch

Mì chính có “đếch”

Vải sợi chưa về

Săm lốp thiếu ghê

Cái gì cũng thiếu…


THẢM HỌA " MẤT SỔ GẠO "



Tuy “phàn nàn” thiếu thốn như vậy, nhưng thời đó nếu để mất tem phiếu sẽ là thảm họa,

so thảm họa này với cảnh thiếu thốn thường nhật thì thiếu thốn vẫn còn là “thiên đường”. Các thế hệ thời đó sẽ đứng trước nguy cơ nhịn đói cả tháng, đi xin, đi vay mượn lương thực, hoặc mua chui lại của “phe tem phiếu” (người tích trữ đầu cơ trái phép tem phiếu).


Vì vậy thành ngữ “Mặt như mất sổ gạo” trở nên vô cùng nổi tiếng thời bấy giờ, dùng để mô tả một khuôn mặt ủ ê não nề không thể đau khổ hơn . Bởi vì thời đó, mất sổ gạo là cầm chắc nhịn đói ! Nhịn đói không phải là một ngày hay một tháng mà có khi đến vài ba tháng. Bởi hành trình, thủ tục xin cấp lại cuốn “bảo bối quý giá” này khổ sở vô cùng. Suốt những ngày còn lại sẽ chạy vạy, vay mượn khắp nơi để sống sót qua ngày đoạn tháng.


Nạn ăn cắp diễn ra phổ biến và rất tinh vi, cũng khiến việc mất tem phiếu, mất sổ gạo diễn ra lại càng thường xuyên hơn.





[b][size=16][color=indigo][i]CẢNH XẾP HÀNG NHƯ CHƠI RỒNG RẮN NHƯ CHƠI TRÒ RỒNG RẮN LÊN MÂY



Muốn mua được lương thực thực phẩm, các thế hệ thời đó cần đi xếp hàng 3, 4 giờ sáng để giữ chỗ, phòng khi cửa hàng bán nửa chừng hết lương thực, thực phẩm. Người ta dùng những cục gạch, chiếc dép, mảnh gỗ để ‘xí chỗ’ khi cửa hàng chưa mở cửa và người thật sẽ đứng vào hàng khi mở cửa.


Thậm chí nếu xếp hàng đầu,
nhưng cũng không bảo đảm là sẽ được mua trước, bởi vì nếu có những sổ thuộc dạng ‘ưu tiên’ hoặc ‘chen ngang’ do có móc ngoặc với nhân viên thương nghiệp, hoặc đơn giản là xếp hàng tới nơi mới biết đã bị ăn cắp tem phiếu hay sổ rồi.






Rất nhiều khi, mỏi mệt rã rời vì xếp hàng cả đêm, nhưng tới gần lượt, thì cánh cửa hàng mậu dịch sẽ sập xuống phũ phàng trước mặt cùng với câu nói
lạnh băng của cô mậu dịch viên “HẾT HÀNG”… Vậy là lê bước về nhà để hôm sau đi xếp hàng tiếp…


https://www.ohay.tv




Được sửa chữa bởi phuongtim11 ngày Tư 4 10, 2019 2:27 pm; sửa lần 1.
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gởi tin nhắn
phuongtim11



Ngày tham gia: 30 3 2010
Bài gởi: 15823

Bài gởiGởi bởi: Tư 4 10, 2019 2:16 pm    Tiêu đề:



7 MÓN ĂN KINH ĐIỂN THỜI BAO CẤP Crying or Very sad Exclamation Exclamation




Chỉ cần nghe tên, bạn sẽ ngay lấp tức nhớ đến những tháng ngày bao cấp gian khổ đã qua của biết bao thế hệ.


Thời bao cấp với mỳ hạt, gạo mậu dịch, chạch trấu om trám, tem phiếu sẽ là những hoài niệm về một thời bao cấp chưa xa.


1. Hạt bo bo, mì hạt


Có lẽ trong chúng ta, rất nhiều người thuộc câu hát chế về thời bao cấp :


" Bo bo độn mì, tiền lương mỗi tháng 5 hào ".


Ngày bao cấp vì thiếu thốn, người ta phải ăn bo bo và mì hạt được viện trợ trong bữa ăn. Bo bo không dễ ăn, hạt mì khi nếu không giã làm bánh cũng khá cứng, tuy vậy, đây lại là những loại lương thực thay cơm ngày khá phổ biến trong thời kì đó





2. Bánh đúc chấm tương

Lại phải nhấn manh lại rằng ngày xưa bánh kẹo là thứ hiếm hơn lá mùa thu, thế nên đồng quà tấm bánh khi ấy chỉ gói gọn trong vài thứ dân dã như chiếc bánh đa, tấm bánh đúc mà thôi.

Bánh đúc ngày xưa đơn thuần chỉ là ít bột tẻ quấy, sang hơn thì điểm thêm ít lạc. Quấy xong hoặc đổ lót ra chuối đổ ra mâm, hoặc đổ ra thành từng bát nhỏ. Khi ăn cắt nhỏ bánh chấm với tương. Miếng bánh mềm mượt, giòn nhẹ kết hợp với vị bùi, đậm của tương tuy đơn giản mà ngon khó tả.






3. Rau muống chấm tương

Rau muống là loại rau dân dã, dễ trồng, gặp mưa lên rất nhanh, ăn nhiều không ngán lại chế biến được thành nhiều kiểu.Thế nên cũng không có gì lạ khi bữa cơm ngày bao cấp luôn có món này.

Trong đó phổ biến nhất chính là rau muống luộc chấm tương. Rau quê thơm bùi, chấm với tương cùng nhau đưa đẩy, cũng "hợp lực" cho rất nhiều người qua được những ngày thiếu thốn. Và rau muống chấm tương không chỉ là món ăn của thời bao cấp mà đến bây giờ, vẫn là món ăn dân dã, quen thuộc của nhiều gia đình.







4. Dưa muối, cà muối

Đây là hai món kinh điển trong mâm cơm bao cấp bởi nó rất đưa cơm. Vào mùa thì muối xổi ăn ngay, hết mùa thì muối mặn, nén chặt để ăn dè.

Phần vì không có gì để ăn, phần vì, nói gì thì nói, có vài quả cà, đĩa dưa chua, ăn cơm bao giờ cũng ngon hơn hẳn. Chưa kể dưa, cà còn chế biến được thành nhiều biến tấu như dưa nấu lạc, cà dầm tương.






5. Dưa xào tóp mỡ

Thời bao cấp, món này có thể được xếp vào hàng cao cấp vì thịt hay mỡ cũng phải mua theo tem phiếu, số lượng có hạn, nên bữa nào có dưa xào tóp mỡ, bữa đó được coi như bữa cải thiện.

Vị dưa chua chua, ăn với tóp mỡ béo ngậy quả thực tốn cơm vô cùng. Ngày nay, món này được coi như đặc sản mà chỉ có một số nhà hàng chuyên phục vụ kiểu cơm xưa mới bán.





6. Cơm độn khoai sắn


Do tình trạng thiếu gạo trầm trọng, nên cơm độn khoai, mì, sắn... đã trở thành bạn đồng hành của phần lớn các gia đình ở Việt Nam thời kỳ bao cấp.

Đến bữa, một bơ gạo được mỗi gia đình trộn cùng đủ loại khoai sắn cắt nhỏ để ăn cho thêm nữa. Cơm độn khoai sắn, ăn một vài bữa thì còn ngon, chứ lâu dài thì ngán, nhưng ngày bao cấp đó là tình trạng chung. Đến bây giờ, thời bao cấp đã lùi xa nhưng cơm độn khoai sắn vẫn còn trong tâm trí nhiều người.





7. Cơm cháy chấm tép kho


Phần cơm cháy ngày nay thường bị bỏ đi sau các bữa cơm gia đình, nhưng vào thời bao cấp cũng là món ngon khi ăn với mắm. Cơm cháy ăn với tép riu hay cá kho khô..cũng là món ngon thời đó. Ảnh: Internet





8. Rau tập tàng nấu cua đồng


Rau tập tàng còn gọi là rau láo nháo, là thứ hỗn hợp gồm đủ loại rau dại như rau dền, rau sam, rau đay... tìm thấy ở vườn nhà hoặc bất kỳ bờ bụi nào. Ngày trước, rau quả cũng rất hiếm, trong vườn trồng đủ thứ, nên đến bữa đi làm đồng về, tranh thủ ra vườn hái nắm rau tập tàng này nấu canh với cua đồng ăn với cơm rất tuyệt.Ảnh: Internet





9. Tép sông kho khế


Thời bao cấp thịt, cá không nhiều mà lại đắt đỏ, còn tép sông giá rẻ, lại dễ kiếm hơn nhiều lại là nguồn đạm rất quan trong trong bữa ăn ngày trước. Nên mỗi khi cất được mớ tép sông thì xem như bữa đó có bữa cơm tươm tất. Cách chế biến tép phổ biến nhất là rang khế ăn cùng cơm nóng. Ảnh: Internet





10. Hạt mít luộc


Ngày nay hạt mít không mấy ai dùng để ăn mà chỉ cho gia sức hoặc ... vứt vào sọt rác, nhưng thời bao cấp lại là món ăn quen thuộc.

Mỗi khi hái mít, sau khi ăn hết, dành hạt mít lại, rửa sạch luộc lên ăn riêng hoặc độn vào cơm rất bùi và thơm. Cũng có lúc nhiều quá, phơi khô cất để ăn dành. Ảnh: Internet





11. Cà pháo dầm tương


Trong mâm cơm thời bao cấp không bao giờ thiếu được đĩa cà pháo dầm tương.

Cà dầm tương ngày nay là món phụ, nhưng ngày xưa từng là món "chủ lực" giúp đưa cơm trong bữa ăn của nhiều gia đình nông thôn Việt Nam. Ảnh: Internet





12. Canh dưa nấu lạc

Thời bao cấp, ở quê, nhà nào cũng sẵn vại cà, vại dưa để trong góc bếp. Đến khi dưa đã chua thì cũng gần hết, vớt ra nấu với lạc sống giã nhỏ thành món canh vừa chua vừa ngọt, có vị bùi béo khó quên .

Ngày ấy chỉ tận dụng những củ lạc vừa mót được từ ruộng mới thu hoạch là được một nồi canh ngon ngọt cải thiện bữa ăn đạm bạc cho cả gia đình






13. Ngọn sắn muối chua


Thời bao cấp, sắn được trồng nhiều vô kể, không chỉ ở miền núi mà cả đồng bằng, sắn được trồng ngoài ruộng, trong vườn, bờ ao.

Thời khó khăn, gạo thì thiếu mà rau cũng khan, cơm độn ngô, sắn nhiều hơn gạo, rau dưa là những thứ tự trồng được ở vườn nhà.

Những ngọn sắn non cũng được tận dụng để muối chua ăn như dưa muối, nhưng có thêm vị bùi bùi, ngọt ngọt của vị lá sắn muối chua.






14. Cơm trộn đường


Cái ngày bao cấp đói kém, đường được xếp vào hàng xa xỉ, thật cần thiết hay có khách quý mới được dùng.

Cơm nóng trộn đường, ăn thơm, ngọt ngọt, nghe ở thời bây giờ thì lạ chứ ngày đấy lại rất thú vị.

Ngày xưa chẳng có bánh kẹo thế nên cơm trộn đường là mơ ước của biết bao đứa trẻ thời bao cấp.




https://www.ohay.tv

https://baonghean.vn


Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gởi tin nhắn
phuongtim11



Ngày tham gia: 30 3 2010
Bài gởi: 15823

Bài gởiGởi bởi: Sáu 4 12, 2019 6:31 am    Tiêu đề:

Arrow

Được sửa chữa bởi phuongtim11 ngày Ba 4 16, 2019 12:49 pm; sửa lần 1.
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gởi tin nhắn
Trình bày bài viết theo thời gian:   
Gởi bài mới   Trả lời chủ đề nầy    Diễn Đàn MẪU TÂM -> TIN TỨC VĂN NGHỆ - THỜI SỰ HẢI NGOẠI Thời gian được tính theo giờ Việt Nam PST (U.S./Canada)
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3 ... 123, 124, 125 ... 127, 128, 129  Trang kế
Trang 124 trong tổng số 129 trang

 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gởi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn
|   Register   |   Tin nhắn riêng   |   Đăng Nhập

Powered by -php_BB- Copyright © mautam.net, 2005. All Rights Reserved