Một nhà thơ bị cầm tù trong sự thật
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3 ... , 14, 15, 16  Trang kế
 
Gởi bài mới   Trả lời chủ đề nầy    Diễn Đàn MẪU TÂM -> TIN TỨC VĂN NGHỆ - THỜI SỰ HẢI NGOẠI
Xem chủ đề trước :: Xem chủ đề kế  
Tác giả Thông điệp
Tre xanh



Ngày tham gia: 05 3 2008
Bài gởi: 10904

Bài gởiGởi bởi: Bảy 3 23, 2019 4:42 pm    Tiêu đề:

CHÂN DUNG THẬT SỰ CỦA BIỆT ĐỘNG THÀNH SÀI GÒN : TRẦN VĂN ĐANG- QUA LỜI KỂ CỦA LUẬT SƯ NGUYỄN VĂN CHỨC.



Hình minh họa

Đọc để hiểu thêm bộ máy tuyên truyền cộng sản đã dựng nên các hình tượng anh hùng một cách giả dối như thế nào để lừa lớp trẻ Việt Nam chết thế cho chúng : từ Lê Văn Tám, Kim Đồng, Võ Thị Sáu, 10 cô gái thanh niên xung phong ở Ngã Ba Đồng Lộc đến Nguyễn Văn Trỗi, Nguyễn Văn Bé, Võ Thị Thắng... và bây giờ là Trần Văn Đang.

Luật sư Nguyễn Văn Chức, người được luật sư đoàn Sài Gòn chỉ định biện hộ (thày cãi) cho Trần Văn Đang, đã kể lại sự vụ của y như dưới đây. Xin chép lại (trích trong báo Con Ong số 84) để quý bạn đọc thấy trong số các nạn nhân của Việt Cộng, cũng có cả các liệt sĩ của chúng như trường hợp Trần Văn Đang ở trong bài viết này.


" Tôi về đến nhà, đã thấy chiếc xe mô tô đen của trung sĩ Ân đỗ trong sân. Ân giơ tay chào, đưa cho tôi một phong thư mầu vàng của tòa án Mặt Trận, và yêu cầu tôi đọc ngay. Phong thư đóng dấu " tối mật ". Tôi xé ra. Bức thư bên trong chỉ vỏn vẹn mấy dòng chữ đánh máy, nhưng tôi đọc rất lâu. Tôi ký sổ biên nhận, rồi bước vào trong nhà.

Ân có chào tôi hay không, và chiếc mô tô rồ máy bỏ đi lúc nào, tôi cũng không để ý. Tôi đang bận nghĩ đến hắn...

Cách đây khoảng 3 tháng, luật sư đoàn Sài Gòn chỉ định tôi biện hộ cho hắn trước tòa án Mặt Trận Vùng Ba Chiến Thuật. Hắn là tên đặc công bị bắt trong khi đặt chất nổ trên đường Tự Do. Hắn bị truy tố về hai tội phản nghịch và mưu sát; hắn có thể bị tử hình. Sau khi xem xong hồ sơ, tôi vào nhà lao để gặp hắn. Đây là một thói quen nghề nghiệp, và cũng là một cái thú. Nói chuyện với tử tù, thường phạm hay chính trị, đôi khi hấp dẫn hơn đọc một cuốn tiểu thuyết bán chạy nhất.

Tôi ngồi trong phòng đợi, nhìn ra vạt sân nắng bên kia chấn song sắt, rồi chợt nhớ đến Nguyễn Văn Trỗi. Trước đây, Trỗi cũng đã ngồi nói chuyện với tôi trong căn phòng này. Trỗi khóc như một đứa con nít, thỉnh thoảng đưa hai tay lên vắt nước mũi rồi quẹt xuống gầm bàn. Trỗi còn trẻ, mới 26 tuổi, nhưng trông già như người 40.

Hắn trẻ hơn Trỗi. Khi nhân viên nhà lao dẫn hắn đến gặp luật sư, miệng hắn đang còn nhai nhóp nhép, hình như là khô mực. Người hắn sặc mùi dầu khuynh diệp. Hắn khép nép ngồi xuống một cái ghế trước mặt, rồi chăm chú nhìn tôi. Lúc đó tôi mới để ý đến cái đầu húi cua và khuôn mặt non nớt của hắn. Khác hẳn với tấm hình đăng trên các báo: tóc dài bù xù, và mặt nhăn nheo như mang đầy thẹo. Tôi mỉm cười hỏi: " Em vừa húi tóc? ". Hắn gật. Tôi lại hỏi: " Em là Trần Văn Đang? ". Hắn gật.

- Em có bí danh Sáu Nhỏ, Hai Gà, Năm Lựu Đạn, có phải vậy không? Hắn gật.

- Em bị bắt khi đặt chất nổ trên đường Tự Do, có phải vậy không? Hắn gật.

Tôi nói cho hắn biết: tôi là luật sư sẽ cãi cho hắn trước tòa, hôm nay tôi vào nhà lao gặp hắn để tìm hiểu thêm về tội trạng của hắn. Và tôi yêu cầu hắn kể lại tất cả sự việc từ đầu đến cuối, để giúp tôi phối kiểm lại hồ sơ.

Hắn nhìn tập hồ sơ trên bàn, rồi nhìn ra ngoài sân rất lâu, như đang suy nghĩ lung về một vấn đề. Tôi cũng nhìn hắn và chợt thấy hắn dễ thương. Hắn vẫn ngồi im. Tôi hỏi: " Khi lấy cung, người ta có tra tấn và hăm dọa em không? ". Hắn mở to mắt nhìn tôi. Tôi lại dục: " Em nên kể lại tất cả sự việc, từ lúc được móc nối cho đến khi bị bắt, bị hỏi cung. Em kể lại hay không, đó là quyền của em. Em cũng có thể từ chối không nhận tôi là luật sư của em và chọn một luật sư khác. Đó là quyền của em ".

Hình như tôi còn nói nhiều nữa. Tôi muốn đến gần hắn, tôi muốn được " hân hạnh " nói chuyện với hắn.

Hắn nhìn tôi, tỏ vẻ dè dặt. Tôi đợi một lúc khá lâu, rồi lại hỏi: " Tất cả những điều em khai trong hồ sơ đều là sự thật, có phải vậy không? ". Hắn gật đầu một cách thản nhiên.

Bên ngoài vạt nắng đã thu hẹp lại ở góc tường bao quanh cái sân nhỏ. Tiếng người gọi đi thăm nuôi, tiếng quát tháo, tiếng chửi thề... đã bắt đầu thưa thớt. Tôi không đeo đồng hồ, và trong phòng cũng không có đồng hồ, nhưng tôi đoán lúc đó khoảng 4 giờ chiều, nghĩa là gần hết giờ thăm nuôi phạm nhân. Riêng tôi, vì là luật sư, tôi có thể nói chuyện với thân chủ cho đến 5 giờ chiều. Khổ một nỗi, thân chủ lại không muốn nói chuyện với luật sư. Tôi đành phải làm cái công việc bất đắc dĩ của nghề nghiệp, là tóm tắt hồ sơ và đọc những điểm quan trọng cho thân chủ nghe, để thân chủ hoặc xác nhận, hoặc phủ nhận.

Hồ sơ hắn dầy gần trăm trang đánh máy, gồm phúc trình của CS và An Ninh Quân Đội. Cô thư ký của tôi đã chép độ 20 trang quan trọng nhất. Riêng tôi đã lận đận trọn một ngày ở tòa án Mặt Trận để đọc lại toàn bộ hồ sơ và ghi chú thêm. Lận đận như vậy, vì lương tâm nghề nghiệp, và cũng vì tò mò nghề nghiệp. Trong những vụ án chính trị lớn tại miền Nam, tôi từng tiêu hoang thì giờ tại tòa án, để đọc và suy nghĩ về những lời khai của các bị can. Nhờ đó, tôi đã biết được cái lý do sâu xa đã khiến văn hào Nhất Linh-Nguyễn Tường Tam uống thuốc độc tự vận, một ngày trước khi tòa xử.

Tôi giở hồ sơ hắn ra và bắt đầu đọc:

Hắn sinh tại Gò Dầu Hạ, bố vô danh. Mười lăm tuổi, hắn mồ côi mẹ và được người chú mang lên làm công cho một tiệm sửa xe Vespa tại đường Trương Minh Giảng-Sài Gòn. Trong thời gian sống ở Sài Gòn hắn làm quen với một tên Tư. Tên này " xây dựng " hắn, và gửi hắn vào bưng học tập. Bốn tháng sau, hắn trở về Sài Gòn hoạt động trong tổ đặc công của tên Tư. Một ngày trước khi bị bắt, hắn được tên Tư cho đi ăn uống tại một con hẻm đường Nguyễn Huệ. Sau bữa ăn, cả hai thả bộ ra đường Tự Do để quan sát địa điểm hành động. Đó là một cái " bar " Mỹ mà hắn đã từng đi ngang qua nhiều lần. Chiều hôm sau, một buổi chiều thứ Bẩy, tên Tư đem về hai cái bọc, mỗi cái đựng 10 kg thuốc nổ và bộ phận nổ chậm. Tên Tư gài bộ phận nổ chậm, rồi đặt cái bọc thứ nhất trong thùng một chiếc Vespa mầu xanh. Cái bọc thứ hai được đặt trong thùng một chiếc Vespa mầu trắng. Rồi cả hai cùng đi tới địa điểm hành động. Lúc đó, đồng hồ nhà tên Tư chỉ đúng 5 giờ 15 phút. Hắn cưỡi chiếc xe Vespa mầu xanh, tên Tư cưỡi chiếc xe mầu trắng, hai xe cách nhau khoảng 200 thước. Hắn có nhiệm vụ phá cái bar Mỹ đã quan sát chiều hôm trước. Còn tên Tư có nhiệm vụ phá cái bar khác gần khách sạn Eden Rock ở cuối đường Tự Do. Khoảng 15 phút sau, hắn tới cái bar Mỹ. Hắn ngừng xe lại, còn tên Tư tiếp tục đi về phía cuối đường Tự Do. Hắn xuống xe, nhấc chiếc Vespa lên lề đường, rồi dắt chiếc xe về phía cái bar Mỹ. Theo chỉ thị của tên Tư, hắn có nhiệm vụ đỗ chiếc xe Vespa trước cửa cái bar Mỹ rồi bỏ đi. Tên Tư cũng cho hắn biết: quả mìn sẽ nổ đúng 6 giờ. Hắn không đeo đồng hồ. Hắn biết chắc hắn còn nhiều thì giờ, ít nhất là 15 phút để thi hành phận sự. Hắn lấy chân đạp vào chiếc cần sắt của chiếc Vespa, kéo ngược chiếc Vespa lên và dựng chiếc Vespa ngay trước cửa bar. Hắn chưa kịp bỏ đi, thì người cảnh sát đứng bên kia đường thổi còi và ngoắc tay làm hiệu cho hắn phải dắt chiếc xe đi chỗ khác. Hắn đâm ra lúng túng, và trong lúc hạ cần xe xuống, hắn làm đổ chiếc Vespa. Hắn hì hục dựng chiếc Vespa lên. Người cảnh sát bên kia đường lại thổi còi. Hắn đâm ra hốt hoảng. Chiếc Vespa trở nên quá nặng đối với hắn. Hắn sẽ phải dựng chiếc xe lên. Hắn sẽ phải dắt chiếc xe đi chỗ khác. Và hắn chợt nhớ tới quả mìn. Quả mìn sẽ nổ banh xác hắn. Hắn không kịp nghĩ thêm gì nữa. Hắn rầm chạy. Hắn chạy ngược về phía tiệm sơn mài Thành Lễ. Mấy người cảnh sát bên kia đường rút súng, huýt còi đuổi theo. Và hắn đã bị bắt. Khoảng 20 phút sau, nhân viên cảnh sát lục soát chiếc xe Vespa và đã tìm thấy quả mìn. Theo phúc trình của cảnh sát, thì bộ phận nổ chậm bị hư, nếu không, quả mìn đã nổ vào lúc 5 giờ 50 phút, nghĩa là lúc hắn đang lúng túng với chiếc xe Vespa. Theo hồ sơ, hắn nhận hết tội, tại nha CS cũng như tại An Ninh Quân Đội, và không một lần nào phản cung. Hắn có vợ và một đứa con trai 10 tháng.

Tôi đọc hồ sơ rất chậm, chờ đợi ở hắn một phản ứng, một cử chỉ, một lời nói. Nhưng tôi đã đọc hết dòng chót, mà hắn vẫn ngồi im, mặt cúi gầm xuống đất. Có lẽ hắn không nghe tôi đọc.

Tôi muốn hỏi hắn về những điểm trong hồ sơ, nhất là về tên Tư nào đó. Nhưng nhân viên nhà lao đã bước vào cho tôi biết chỉ còn đúng 5 phút với hắn. Tôi nhìn ra ngoài, thở dài. Vạt sân đã hết nắng. Khi xốc hồ sơ bỏ vô cặp, tôi vô ý làm rớt tấm ảnh của thằng con trai tôi mới được 8 tháng. Tôi chợt nhớ ra: hắn cũng có một đứa con trai trạc tuổi đó. Tôi liền hỏi: " Từ ngày em bị bắt, em đã gặp con chưa? ". Hắn nhìn tôi rất nhanh, đôi mắt vụt trở nên khẩn thiết. Tôi lại hỏi: " Em có muốn gặp vợ con em không? ". Hắn túm tím miệng, nuốt nước bọt cái ực, rồi nói một cách vội vàng: " Ông có giúp tôi được không? ". Tôi gật. Lúc đó hắn mới cho tôi biết: theo lời khuyên của tên Tư, một tuần trước khi đặt chất nổ, hắn đã cho vợ con về sống với quê ngoại ở Mỏ Cày. Hắn hy vọng vợ hắn đọc báo đã biết tin hắn bị bắt và đã đem con lên Sài Gòn ở với người chú. Hắn cho tôi hai địa chỉ ở miệt Cầu Ông Lãnh, và xin tôi làm mọi cách để vợ con hắn vào thăm hắn trong tù. Hình như hắn muốn nói nhiều nữa, nhưng nhân viên nhà lao đã bước vào đem hắn đi. Hắn bỗng nắm chặt bàn tay tôi, cánh tay run run. Hắn nhìn tôi, và tôi thấy mắt hắn ướt.

Chiều hôm ấy, khi ra khỏi nhà lao, tôi lái xe thẳng đến khuôn viên nhà thờ Đức Bà, gửi xe cho một đứa bé, rồi thuê xích lô đạp về chợ Cầu Ông Lãnh. Tối mịt, tôi mới ra về. Tôi không tìm thấy vợ con hắn.

Trưa hôm sau, tôi viết hai lá thư, một cho người chú, một cho vợ hắn, báo tin ngày tòa xử và nhắn vợ hắn đến văn phòng tôi để làm thủ tục xin giấy đi thăm nuôi chồng. Ký xong bức thư, tôi vào nhà lao báo cho hắn biết về cuộc tìm kiếm của tôi. Nhưng tôi không được gặp hắn: hắn đã bị trả về An Ninh Quân Đội để bổ túc hồ sơ. Từ hôm đó đến ngày xử, tôi không có dịp gặp hắn nữa.

Hôm tòa xử, tôi đi rất sớm. Mới 8 giờ sáng tôi đã có mặt ở bến Bạch Đằng. Khi lái xe vào cổng tòa án Mặt Trận, tôi thấy một thiếu phụ ôm con ngồi nép ở lối đi, bên cạnh một cái lẵng mây. Không hiểu sao tôi nghĩ đó là vợ hắn. Tôi đỗ xe trong sân tòa án, rồi đi bộ ra cổng gặp người thiếu phụ. Tôi hỏi ngay: " Chị là vợ anh Đang? ". Thiếu phụ gật. Tôi hỏi: " Chị được tin hôm nào? ". Thiếu phụ cho biết: khi đọc báo biết tin chồng bị bắt, chị muốn lên Sài Gòn ngay, nhưng vì đứa con đau nặng, nên ông bà già không cho đi. Cách đây bốn hôm, chị nhận được thư của người chú báo tin ngày tòa xử, vả lại đứa con cũng đã gần hết bịnh, nên ông bà già cho đi.

Tôi nhìn đứa bé nằm ngủ trong lòng mẹ. Da nó xanh mét. Thỉnh thoảng nó cựa mình rên khe khẽ, người mẹ lại vỗ nhẹ lên người nó để ru. Chị ta hỏi tôi: " Thưa ông, liệu ảnh có việc gì không? ". Tôi không tìm được câu trả lời. Tôi nhìn đứa bé rồi hỏi: " Cháu được mấy tháng? ". Chị ta trả lời: " Con sanh cháu được 10 tháng thì ảnh bị bắt ".

Bỗng có tiếng còi hụ và tiếng người nhốn nháo. Tôi nhìn về phía đường Bạch Đằng. Một chiếc xe nhà binh đang trờ tới. Đó là xe chở tội nhân. Những người đứng dưới đường vội vàng dạt ra hai bên để cho xe quẹo vào cổng tòa án. Khi chiếc xe đi ngang qua, tôi nhìn thấy hắn, và người vợ cũng nhìn thấy chồng. Chị ta vội vã đứng lên, một tay xách chiếc lẵng mây, một tay ôm con, lễ mễ chạy vào trong sân tòa.

Đoàn tội nhân đã xuống khỏi xe, đứng xếp hàng giữa sân tòa. Hắn đứng ở hàng chót, ngơ ngác nhìn quanh như tìm kiếm. Vợ hắn gọi lớn: " Anh hai, em và con đây nè ". Hắn quay mặt về phía tiếng gọi, và khi trông thấy vợ hắn, hắn giơ hai tay bị còng lên như muốn ôm ghì một hình bóng. Vợ hắn đứng cách xa hắn chỉ một khoảng sân nhỏ. Chị ta bỏ chiếc lẵng mây xuống đất, ôm con xăm xăm chạy về phía hắn. Nhưng người lính đã ngăn chị ta lại, rồi ra lệnh cho đoàn tội nhân đi vào hành lang. Đây là một lối đi lộ thiên, nằm giữa hai bức tường của hai dãy nhà quay lưng vào nhau. Người ta dùng chỗ đó để tạm giữ tội nhân, trong khi chờ tòa gọi tội nhân ra trước vành móng ngựa.

Hắn ngồi hàng chót, nép vào chân tường. Tay hắn đã được mở còng. Vợ hắn lễ mễ ôm con lại gần. Người lính định cản lại, nhưng thấy tội nghiệp, nên đã để cho đi qua.

Tôi chỉ kịp trông thấy người đàn bà ngồi thụp xuống đất bên cạnh người chồng rồi khóc nức nở. Hắn không khóc, mở to mắt nhìn về trước mặt, một tay để lên vai vợ, một tay vuốt tóc con. Lúc sau người vợ lấy vạt áo lau nước mắt, rồi lấy ở trong lẵng ra một xị nước ngọt đựng trong túi nylon đưa cho chồng: " Anh uống đi cho đã khát, em có mua cho anh ổ bánh mì thịt ở trong lẵng ". Hắn rời tay khỏi vai vợ, đỡ lấy túi nước ngọt đưa lên môi, nhưng tay kia vẫn sờ trên mình đứa con, đôi mắt dịu hẳn xuống. Trong một lúc tình cờ, hắn ngẩng đầu lên. Hắn nhìn thấy tôi đứng bên kia tường. Tôi giơ tay làm hiệu chào hắn.

Chỉ còn độ một hai giờ nữa, tòa sẽ kêu đến vụ hắn. Tôi muốn nói chuyện với hắn. Nhưng tôi không nỡ làm bận rộn cuộc xum họp mà tôi linh cảm là cuộc xum họp lần chót. Tôi thở dài ái ngại, rồi bỏ đi ra phía sân tòa. Thời gian như chậm lại. Hắn, con hắn, vợ hắn, lởn vởn trong đầu tôi. Làm thế nào để cứu hắn khỏi chết? Làm thế nào để tòa án hiểu rằng: hắn, cũng như Nguyễn Văn Trỗi, cũng như bao thanh thiếu niên khác, chỉ là nạn nhân đáng thương của một hệ thống đểu cáng và vô nhân đạo nhất lịch sử loài người.

Mãi mười một giờ trưa, tòa mới kêu đến tên hắn. Hắn từ hành lang đi ra, bên cạnh hai người lính. Vợ hắn lễ mễ ôm con theo từ đằng xa, rồi ngồi xuống một chiếc ghế cuối phòng xử. Phòng xử hôm đó đông nghẹt dân chúng. Bên ngoài, trời oi ả như sắp có cơn dông.

Trước vành móng ngựa, hắn nhỏ bé và non nớt hơn cái hôm tôi gặp hắn trong nhà lao. Da hắn xanh mướt, và nét mặt thản nhiên. Tôi đến bên hắn, hắn quay lại nhìn tôi một thoáng rồi lại nhìn thẳng đàng trước mặt. Không khí nặng nề. Cả phòng xử im lặng. Ông chánh thẩm hỏi lý lịch, rồi truyền cho hắn trở về ghế bị can để nghe bản cáo trạng. Tôi cũng từ vành móng ngựa đi theo xuống ngồi bên cạnh hắn. Hắn xích lại gần, như để tỏ lòng biết ơn. Viên lục sự bắt đầu đọc bản cáo trạng, tiếng ông ta vang lên đều đều. Cả tòa, từ ông chánh thẩm, ủy viên chính phủ, đến công chúng ngồi dưới, đều lắng tai nghe. Chỉ có hắn là không. Hắn nhìn đăm đăm đàng trước mặt, như đang suy nghĩ. Có lẽ hắn nghĩ tới vợ con hắn. Một lần, tôi chợt thấy hắn quay đầu lại nhìn xuống cuối phòng xử, như muốn tìm xem vợ con hắn ngồi ở đâu. Bỗng nhiên, mặt hắn biến sắc, tay hắn run run, đầu cúi rầm xuống.

Viên lục sự đã đọc xong bản cáo trạng. Hắn rời ghế bị can, rồi cùng tôi bước lên vành móng ngựa.

Ông chánh thẩm hỏi: " Anh đã nghe bản cáo trạng. Anh bị cáo về tội phản nghịch và mưu sát. Anh có nhận tội không? ". Hắn gật đầu.
- Anh có thể kể lại cho tòa nghe tất cả sự việc từ đầu đến cuối không?

Hắn nhìn ông chánh thẩm, nhìn bồi thẩm đoàn, nhìn ủy viên chính phủ, nhìn tôi, rồi lắc đầu.

Ông chánh thẩm lại hỏi: " Có phải anh đã đỗ chiếc Vespa trước cái bar Mỹ? ". Hắn gật.

- Anh có biết chiếc Vespa có chất nổ không?

Hắn gật.

- Anh đỗ chiếc Vespa trước cửa bar, để phá cái bar đó, có phải không?

Hắn gật.

- Tên Tư bao nhiêu tuổi, vóc dáng như thế nào?

Hắn đứng im không trả lời.

Ông chánh thẩm nhìn tôi, tôi nhìn ông ta. Một bên ở vào cái thế khó xử, một bên ở cái thế khó cãi. Đại tá Ủy viên Chính Phủ bỗng quát lớn: " Tại sao bị can không trả lời? ". Hắn ngước mắt nhìn ủy viên chính phủ, rồi đứng im như pho tượng.

Khi tòa trao lời cho ủy viên chính Phủ chính thức đặt câu hỏi, thì ủy viên chính phủ nhún vai, như muốn nói với tòa rằng ông không có gì để hỏi một bị can chỉ biết gật với lắc đầu. Nhưng chỉ một vài giây sau, ông nói như hét: " Thằng Tư, tên thật nó là gì. Địa chỉ nó ở đâu? ". Hắn lại nhìn ủy viên chính phủ rồi im lặng. Một lần nữa, ủy viên chính phủ lại nhún vai và làm cái cử chi quen thuộc để tòa hiểu rằng ông ta không còn gì để hỏi nữa.

Đến lượt tôi đặt câu hỏi. Tôi hỏi hắn: " Khi bị lấy cung tại nha CS và An Ninh Quân Đội, em có bị tra tấn hoặc bị hăm dọa không? ". Hắn lắc đầu. Tôi lại hỏi: " Em có hối hận vì đã trót nghe lời dụ dỗ của tên Tư không? ". Hắn cúi gầm mặt xuống lắc đầu.

Tôi đã đưa ra hai cây sào để cứu hắn. Không ngờ hắn đã từ chối không nắm lấy và hình như còn thích thú để cho nước cuốn trôi đi. Nước mắt người vợ và tình thương con đã không làm hắn thay đổi. Một đời luật sư, tôi từng ngang dọc trong những vụ kiện lớn của chế độ, nhưng chưa bao giờ tôi cảm thấy mình bất lực như hôm nay.

Ủy viên Chính Phủ đứng lên buộc tội. Trong 15 phút hùng biện, ông gay gắt lên án bị can. Ông nhấn mạnh đến trường hợp quả tang phạm pháp, đến bản chất của tội trạng (phản nghịch và mưu sát) và sự ngoan cố của bị can. Ông kết luận: " Trong cuộc đấu tranh chống lại bọn cộng sản " kẻ thù của dân tộc " chúng ta cần phải nghiêm trị những bọn phá hoại, những tên cán bộ nằm vùng, những tên đặc công khủng bố giết người không gớm tay. Nếu hôm đó quả mìn nổ, bao nhiêu dân chúng qua đường đã bị chết thảm, bao nhiêu người dân vô tội đã bị què cụt đui mù... ". Ông yêu cầu tòa lên án tử hình. Tòa trao lời cho tôi. Trách nhiệm của tôi quá lớn, và nhiệm vụ của tôi quá khó khăn. Tôi biện hộ cho một bị can phạm tội phản nghịch và mưu sát với trường hợp gia trọng. Bị can ấy nhận tội tại nha CS, tại An Ninh Quân Đội, và trước tòa án. Bị can ấy từ đầu đến cuối không lúc nào phản cung. Bị can ấy từ chối không trả lời tòa án, không trả lời ủy viên chính phủ, không trả lời luật sư. Bị can ấy im lặng tuyệt đối, như để bảo mật cái tổ đặc công giết người của hắn, theo một mệnh lệnh... Giọng tôi trầm trầm. Tôi nói, hình như không phải cho tòa nghe, mà cho chính tôi nghe. Tôi nói, để cố trả lời cho những câu hỏi mà chính tôi đang thắc mắc. Tại sao hắn không có một lời để tự bào chữa? Tại sao hắn đã nhận tội một cách thản nhiên, và không một lần nào phản cung, trong hồ sơ cũng như trước tòa án? Hắn là một tên đặc công bị bắt quả tang trong khi đặt chất nổ, chắc chắn hắn đã bị tra tấn của công an trong khi lấy cung. Tại sao hắn không nói điều ấy ra trước tòa? Và tên Tư? Tên Tư là ai? Tại sao hắn lại im lặng không chịu cung khai về tên Tư? Tại sao hắn lại từ chối không trả lời những câu hỏi có lợi cho hắn?

Không ai muốn chết. Không ai muốn bị hành hình. Không ai muốn bị đập chết như một con chó ở góc tường, như những nhân vật trong tiểu thuyết Kafka. Huống chi, hắn mới 21 tuổi, có vợ, có con, và thương vợ thương con. Thế thì tại sao hắn lại im lặng? Chỉ có một câu trả lời. Hắn bị quyến rũ phạm tội ác, và sau khi bị bắt, hắn vẫn bị theo rõi. Hắn sợ vợ con hắn bị trả thù, hắn đã phải im lặng, tuyệt đối im lặng. Biết đâu trong phòng xử hôm nay, lại không có tên Tư nào đó đang ngồi theo rõi hắn. Hướng về phía ông Ủy viên Chính Phủ, tôi nói như tâm sự: " Tôi đồng ý với ông là chúng ta, những người quốc gia, phải thẳng tay trừng trị, nếu cần, phải giết những tên đặc công gian manh, những tên cán bộ khát máu, những tên đặc công giết người không gớm tay. Nhưng trong hiện vụ, tôi không nghĩ bị can là một tên cộng sản gian manh, một tên cán bộ khát máu, một tên giết người không gớm tay. Và đây là điểm cực kỳ quan trọng: quả mìn hôm ấy đã không nổ ".

Kết luận, tôi yêu cầu tòa khoan hồng. Bị can mới hai mươi mốt tuổi, chưa hề can án, có vợ còn trẻ và con còn nhỏ, vì vậy đáng được hưởng sự khoan hồng của luật pháp.

Sau lời biện hộ của tôi, tòa hỏi hắn: " Luật sư đã biện hộ cho anh rồi. Anh có quyền nói lời chót. Anh muốn nói gì không? ". Hắn lắc đầu. Tòa ngưng xử, bước vào phòng để nghị án. Khoảng một giờ sau, tòa trở lại tuyên án: tử hình. Lập tức, hắn bị còng tay mang đi. Lúc đó, đã quá trưa, những đám mây đen từ đâu kéo về bao kín cả một góc trời đã mất ánh sáng. Dân chúng kéo nhau ra về. Tôi xách cặp đi ra xe như người mất hồn. Khi lái xe qua cổng tòa án, tôi thấy vợ hắn ôm con ngồi khóc. Tôi về văn phòng, viết đơn xin ân xá cho hắn. Đây chỉ là thủ tục tòa án, nhưng tôi đã làm với tất cả sự cẩn trọng của một lễ nghi tôn giáo. Tôi muốn cứu hắn khỏi chết. Vì nhân đạo. Vì nghề nghiệp. Và cũng vì trường hợp cá biệt của hắn.

Hắn khác Nguyễn Văn Trỗi. Nguyễn Văn Trỗi khóc lóc van xin trước tòa, và sau khi bị tòa lên án tử hình, Trỗi đã hô lớn " Hồ Chí Minh muôn năm ". Hô xong lại khóc, lại van xin. Còn hắn, hắn nín thinh. Không khóc lóc, không van xin, không hô khẩu hiệu.

Hắn khác Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Hữu Thọ huênh hoang và cao ngạo trước tòa. Hắn chịu đựng, nhẫn nhục, đến độ gần như khắc kỷ. Tôi nghĩ đến con chó sói trong bài thơ " La Mort du Loup " của thi hào Vigny.

Ba tháng đã trôi qua. Bức thư của tòa án Mặt Trận mà trung sĩ Ân đưa cho tôi chiều hôm nay chỉ vỏn vẹn mấy dòng chữ đánh máy: " Trân trọng báo để luật sư tường: đơn xin ân xá của Trần Văn Đang đã bị bác. Ngày mai, hồi 5 giờ sáng, bản án tử hình sẽ được thi hành. Nếu luật sư muốn hiện diện nơi hành quyết, thì xin có mặt tại khám Chí Hòa vào lúc 4 giờ sáng. Trân trọng ".

Suốt đêm, tôi trằn trọc không ngủ, đầu óc lởn vởn khuôn mặt của hắn, và hình ảnh của hắn ngồi trong hành lang tòa án, một tay để lên vai vợ, một tay sờ lên mình đứa con. Chưa đầy 3 giờ sáng, tôi đã thức dậy, đi vào khám Chí Hòa. Tôi bước vào phòng đợi, đã thấy một nhà sư gầy gò mặc nâu sòng đang ngồi lần chuỗi hạt. Viên quản đốc nhà lao cho tôi biết: nhà sư đã đến trước tôi cả nửa giờ. Lát sau, một linh mục béo tốt bước vào, trong bộ quân phục thiếu tá tuyên úy. Bốn giờ ba mươi phút, ủy viên chính phủ đến. Rồi đoàn người, gồm viên quản đốc nhà lao, ủy viên chính phủ, luật sư, và hai vị tuyên úy, lặng lẽ đi vào một căn phòng rộng. Thường nhật, đây là chỗ điểm danh tội nhân. Hắn đã ngồi đó từ bao giờ, bên cạnh cái bọc quần áo. Ánh sáng vàng bệch của ngọn đèn cáu bụi trên trần nhà phả xuống bốn bức tường trắng xóa. Tôi chợt có ý nghĩ kỳ lạ là đang bước vào căn nhà xác của bệnh viện. Đoàn người tiến lại gần hắn. Hắn đứng dậy, đôi mắt như dò hỏi. Một phút im lặng, dài như một ngày. Đại tá ủy viên chính phủ trịnh trọng nói với hắn: " Anh hãy cam đảm lên, và nghe tôi đọc ". Rồi ông lớn tiếng đọc bản án tử hình và bản quyết định bác đơn xin ân xá của hắn. Hắn cúi đầu nhìn xuống sàn nhà, đôi mắt mở to. Người hắn run lên. Nhưng chỉ giây lát, hắn lấy lại bình tĩnh. Hắn hỏi: " Bao giờ người ta xử tôi? ". Viên quản đốc nhà lao để tay lên vai hắn: " Ngay sáng hôm nay, trước khi mặt trời mọc ". Rồi ông thân mật nói với hắn: " Bây giờ em muốn ăn uống gì không, khám đường sẽ chu tất cho em ? ". Hắn lắc đầu.

Lúc đó, không ai bảo ai, mỗi người nói với hắn một vài câu an ủi. Không khí trở nên thân mật và âu yếm như trong một cuộc tiễn đưa. Riêng tôi chỉ nhìn hắn, tôi muốn nói chuyện riêng với hắn; đó là quyền của tôi, quyền của luật sư biện hộ. Ủy viên chính phủ đồng ý, và cho tôi biết: tôi có 5 phút. Rồi đoàn người bước ra khỏi phòng, để một mình tôi với hắn. Người cuối cùng đã bước ra khỏi phòng. Hắn nắm lấy tay tôi, và nhìn tôi rất lâu, đôi mắt ướt sũng. Tôi hỏi: " Em có muốn nói nhắn với vợ em điều gì không? ". Hắn suy nghĩ giây lát, rồi nói: " Em bị chúng nó lừa. Luật sư có gặp vợ em, thì bảo đừng ở dưới vườn nữa, và nuôi lấy con ". Tôi hỏi: " Em chết, có điều gì oán hận không? ". Hắn không trả lời. Tôi an ủi hắn: " Người ta, ai cũng phải chết một lần, đời sau mới là quan hệ. Em theo đạo nào? ". Tôi là người Công giáo. Tôi ước ao hắn dành một vài phút để nghĩ đến Thượng Đế và tình thương bao la của Người. Nhưng ủy viên chính phủ đã bước vào nói nhỏ: " Luật sư hết giờ rồi ". Rồi ông thân mật hỏi hắn: " Ở đây có hai vị tuyên úy em muốn nói chuyện với ai? ". Hắn nhìn nhà sư mặc áo tu hành, hắn nhìn vị linh mục mặc quân phục thiếu tá, rồi xin được nói chuyện với nhà sư. Tôi cúi đầu theo ủy viên chính phủ và vị linh mục đi ra một góc phòng. Nhìn về phía hắn, tôi thấy nhà sư cúi đầu tụng kinh, và hắn cũng cúi đầu như lắng tai nghe kinh. Khoảng khắc, nhà sư ngẩng đầu lên, đặt tay lên vai hắn, trong một cử chỉ vỗ về bao dung. Lúc đó, đồng hồ trên tường chỉ đúng 5 giờ sáng, giờ khởi hành. Người ta xúm lại chung quanh hắn, mỗi người nói với hắn một câu chân tình. Hắn như chợt nhớ ra, xin phép được thay quần áo. Một cảnh sát viên chạy lại cầm cái bọc quần áo đưa cho hắn. Hắn mở bọc, lấy ra một chiếc sơ mi cụt mầu xám, và một chiếc quần vải dragon đen đã bạc mầu. Khi hắn quay mặt vào tường để thay quần áo, tôi nhìn thấy những lằn roi trên da thịt xanh xao của hắn. Thay xong quần áo, hắn xin một điếu thuốc. Viên quản đốc nhà lao mỉm cười, rút trong túi ra một bao thuốc lá Ách Chuồn. Ông ta trịnh trọng lấy ra một điếu, dộng dộng trên ngón tay cái, rồi đưa cho hắn. Hắn ngậm điếu thuốc, và được viên quản đốc châm lửa. Lúc đó, nhân viên an ninh đến. Hắn ngoan ngoãn đưa hai tay chụm ra đằng trước để người ta còng. Rồi đoàn người lặng lẽ đi ra. Hắn đi đầu, thản nhiên bước qua từng đợt cửa, thỉnh thoảng dùng hai tay còng đưa điếu thuốc lên môi. Khi đoàn người ra tới sân nhà lao, điếu thuốc gần lụi, và hắn buông rơi xuống đất. Hắn bước lên chiếc xe bít bùng, đầu hơi cúi xuống. Cửa xe đóng sập lại. Tôi lên xe riêng, lái thật nhanh ra khỏi nhà lao.

Chiếc xe của tôi lầm lũi đi trong đêm, ánh đèn pha chiếu dài cả con đường Hòa Hưng, rồi đường Lê Văn Duyệt. Thành phố Sài Gòn đang trở mình thức giấc, một vài gánh hàng đi nép bên lề đường. Và đó đây, có tiếng động cơ quen thuộc của những chiếc xe Lam dậy sớm. Tới bùng binh chợ Bến Thành, tôi đã thấy một đám đông bu quanh vùng ánh sáng của pháp trường cát. Những phóng viên ngoại quốc chạy nhốn nháo, với máy ảnh và máy quay phim. Cảnh sát chận xe tôi lại. Khi nhìn thấy chiếc áo đen của tôi, họ dẹp đám đông cho xe tôi tiến vào. Tôi đỗ xe sát chân tường Nha Hỏa Xa, cách pháp trường cát độ 30 thước. Những ngọn đèn pha cực mạnh đã được đặt tại đó chiều hôm trước. Tất cả đều chiếu vào pháp trường cát, tạo nên một vùng ánh sáng rợn người. Một chiếc cọc đen đứng cô đơn, đằng sau là những bao cát chất thành vòng cung. Cách đó 3 thước, là chiếc quan tài đậy nắp, trên nắp có một tấm vải trắng. Xa nữa là chiếc xe chữa lửa.

Tôi đứng trong vòng ánh sáng chưa được 10 phút thì nghe tiếng còi hụ. Người ta chạy nhốn nháo. Tôi háy mắt nhìn về phía tiếng còi hụ, thì thấy đoàn xe chở tội nhân đang tiến tới. Chiếc xe bít bùng đỗ lại bên lề đường. Lát sau hắn bước xuống khỏi xe. Tôi vội choàng lên người chiếc áo đen, chạy ra với hắn. Hắn và tôi đi đầu, theo sau là đoàn áp giải. Hắn bước đều đều, mặt cúi xuống đất. Dân chúng bu nghẹt chung quanh, chỉ chừa một lối đi được ngăn giữ bằng hàng rào an ninh. Bây giờ chúng tôi đã bước vào vùng ánh sáng. Hắn bỗng ngửng đầu lên, và đứng khựng lại. Người lính đằng sau lấy tay đẩy nhẹ vào lưng hắn, hắn lại tiếp tục bước đi. Tôi đoán chiếc quan tài và chiếc khăn liệm đã làm hắn khựng lại. Hình ảnh trung thực của chiến tranh không được tìm thấy ở chiến trường " da ngựa bọc thây ", mà được tìm thấy trong các bệnh viện, nơi đó có những hình hài cụt chân cụt tay, những đống thịt bầy nhầy, những hố mắt sâu thẳm, những cuốn băng bê bết máu, và những tiếng rên rỉ đau đớn. Và hình ảnh trung thực của cái chết vẫn là chiếc quan tài, tấm khăn liệm và những người thân yêu tiễn đưa. Bây guờ, hắn và tôi đã bước vào trong vòng những bao cát. Người ta mở còng, rồi giữ ghì lấy hai cánh tay hắn, đẩy hắn dựa lưng vào chiếc cọc sắt. Hai cổ chân hắn bị cột chặt vào thân cọc, hai cánh tay hắn bị kéo ngược ra đằng sau, cột ngược vào một cái cọc ngang. Chiếc cọc ngang này hơi cao, hắn phải kiễng chân lên. Hắn nhăn mặt kêu đau. Tôi nói với viên sĩ quan: " Đằng nào tội nhân cũng sắp chết, ông nên cho hạ thấp chiếc cọc ngang xuống, kẻo máu bị ngừng ở nơi nách, tội nghiệp ". Viên sĩ quan gật đầu, hạ thấp chiếc cọc ngang xuống. Hắn nhìn tôi, và lần đầu tiên hắn nói: " Cám ơn luật sư ". Lúc đó, đội hành quyết đã sắp hàng chỉnh tề, chỉ còn đợi sĩ quan Quân Trấn Trưởng của Quân khu Sài Gòn đến là khởi sự. Một phút, hai phút, rồi ba phút... Cả pháp trường im lặng, trong sự đợi chờ và trong ánh sáng chói chang.

Chỉ còn mình tôi đứng bên cạnh hắn. Hắn bỗng trăn trối: " Em đã bị chúng nó lừa. Luật sư nhớ bảo vợ em đừng ở dưới vườn, đừng nghe theo chúng nó và gắng nuôi con ". Tôi gật đầu. Hắn nấc lên: " Con ơi, Cảnh ơi, Cảnh ơi ". Tiếng nấc của hắn làm tôi mủi lòng. Tôi để tay lên vai hắn, định an ủi, nhưng cổ họng bị tắc nghẽ. Tôi chợt nghĩ đến linh hồn hắn. Tôi thì thầm bên tai hắn: " Em hãy ăn năn hối cải, và cầu xin Chúa giúp em chết lành. Em chết, nhớ phù hộ cho vợ con em ". Hắn lại nấc lên: " Con ơi, con ơi, Cảnh ơi, Cảnh ơi ". Lúc đó, có tiếng còi hụ. Quân Trấn Trưởng đến. Đội hành quyết đứng nghiêm. Người ta bịt mắt hắn. Hắn vẫn nấc, vẫn gọi tên con. Có tiếng lên đạn đàng sau lưng tôi. Ủy viên chính phủ nói lớn: " Xin ông luật sư đứng tránh xa ra một bên ". Tôi đi giật lùi ngang về phía bên trái, mắt không rời hắn. Miệng hắn vẫn lắp bắp gọi tên con. Một tiếng hô. Một loịat đạn nổ. Đầu hắn ngoẹo xuống, gục về bên trái. Máu từ trong người hắn chảy róc xuống đùi, xuống chân, rồi bò ngoằn ngoèo trên lề đường. Viên đội trưởng hành quyết tiến lại, nắm tóc kéo ngược đầu hắn về phía sau, dí khẩu súng lục vào màng tang bên trái của hắn, bắn phát súng ân huệ. Một tiếng " đẹt " khô khan. Người ta vội vàng liệm xác hắn, và chiếc vòi nước của chiếc xe chữa lửa vội vã phụt sạch những vết máu trên lề đường. Phương Đông, chân trời đã bắt đầu hừng đỏ.

Tối hôm đó, đài phát thanh Hà Nội mặc niệm hắn, hết lời ca tụng cái chết anh hùng của hắn. Đài phát thanh Hà Nội nói rõ ràng: từ lúc bị trói vào cọc cho đến lúc bị hành quyết, hắn đã noi gương anh hùng Nguyễn Văn Trỗi, không ngớt đả đảo Mỹ Ngụy và hô to khẩu hiệu " Hồ Chí Minh muôn năm ".

Nguyễn Văn Chức




Chú thích (của luật sư Nguyễn Văn Chức):

Dưới đây là những chi tiết liên quan đến vụ Trần Văn Đang. Bị can sinh năm 1942 tại Vĩnh Long, bị bắt ngày 30 tháng 3 năm 1965 trong khi đặt chất nổ, bị đem ra tòa án Mặt Trận hai tuần sau, và bị bắn tại pháp trường cát bùng binh chợ Bến Thành sáng ngày 21 tháng 6 năm 1965.

Chánh thẩm xử án là đại tá Phan Đình Thứ (tức Lam Sơn), linh mục tuyên úy Công giáo tên Thông, nhà sư tuyên úy Phật giáo là đại đức Sĩ. Quân Trấn Trưởng là đại tá Giám.

Nguyễn Văn Trỗi bị bắt ngày 9 tháng 5 năm 1964, trong lúc đặt bom ở gầm cầu Công Lý, chờ ám sát phái đoàn của Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Mc Namara. Y bị toà án Vùng 3 Chiến Thuật xử tử hình. Trước toà, y khóc lóc, chửi bọn xúi y đi ôm bom là bọn " chó đẻ ", và xin toà tha tội. Khi toà tuyên án tử hình, y hô to Hồ Chí Minh muôn năm. Hô xong y lại khóc và xin toà tha.

Năm 1993, tôi (luật sư Nguyễn Văn Chức) có đọc cuốn " Chung Một Bóng Cờ " do nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia (Hà Nội) ấn hành, gồm những bài viết của Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Hữu Thọ, Phạm Văn Đồng... Cuốn sách đã dành một trang để nói về cái chết của Anh Hùng Trần Văn Đang. Xin trích một vài dòng cuối: " Sáng ngày 21 tháng 6 năm 1965 lúc 5 giờ 52 phút, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đem anh ra xử bắn tại pháp trường cát, với hy vọng có thể khủng bố được tinh thần nhân dân Sài Gòn. Nhưng chúng đã lầm. Trước đông đảo đồng bào và phóng viên trong và ngoài nước đang tụ tập dọc đường Hàm Nghi và chợ Bến Thành, vừa bước xuống xe, Trần Văn Đang dõng dạc nói lớn: Hỡi đồng bào chợ Bến Thành, hỡi đồng bào Sài Gòn thân yêu, tôi là Trần Văn Đang đây, chiến sĩ giải phóng, tôi đánh Mỹ để giải phóng dân tộc... Đả đảo đế quốc Mỹ... đả đảo tập đoàn tay sai bán nước. Ngay sau khi súng đã nổ, anh vẫn không ngừng hô to Hồ chủ tịch muôn năm, đả đảo đế quốc Mỹ " (trích trong Chung Một Bóng Cờ).

http://www.qdnd.vn/phong-su-dieu-tra/ky-su-nhan-vat/chien-si-biet-dong-sai-gon-tran-van-dang-hien-ngang-ngoai-phap-truong-478269

Dương Hoài Linh

http://www.thesaigonposts.com/2019/03/chan-dung-that-su-cua-biet-ong-thanh.html
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gởi tin nhắn Gởi email
Tre xanh



Ngày tham gia: 05 3 2008
Bài gởi: 10904

Bài gởiGởi bởi: Sáu 4 05, 2019 12:43 pm    Tiêu đề:

Nhạc Sĩ Lưu Hữu Phước Vỡ Mộng

XUÂN VŨ



Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước
(1921-1989)


Lưu Hữu Phước thì tôi quen lắm! Cùng tập vác gạch trong trường Nguyễn Ái Quốc. Rồi về R ở chung cơ quan. Bộ Văn Hóa của Chánh phủ ma Huỳnh Tấn Phát mà. Phát có thằng con trai du đãng ở Hà Nội, đang nằm nghỉ mát trong Hỏa Lò khi phái đoàn Mặt Trận Rải Phóng do Nguyễn Văn Hiếu cầm đầu ra thăm Hà Nội.


Không hiểu tại sao Lưu Hữu Phước được mắt thòi lòi Lê Đức Thọ chú ý bắt lên làm Bộ Trường cái Chánh Phủ này rồi sau khi chiếm được Sài Gòn, lại đá văng họ Lưu đau đớn thế!? Lưu nhạc sĩ hận đời muốn vượt biên, tuyên bõ:

- Nếu ra nước ngoài được, tôi cũng đi!


Nhưng mà Lưu nhạc sĩ bị kềm quá chặt không đi được đành chịu chết ở trong nước với mối hận đem xuống mồ.



*

Tôi tiếc Lưu Hữu Phước hơn bất cứ nghệ sĩ nào tôi đã chịu ảnh hưởng trong tuổi trẻ của tôi. Đúng ra tôi mang ơn Lưu Hữu Phước vô kể về việc đánh thức tinh thần yêu nước của tôi từ ngày tôi còn là học sinh trung học. Lưu Hữu Phước là một nhà ái quốc biểu lộ lòng yêu nước của mình và truyền nó sang hằng triệu, hằng chục triệu người Việt Nam để làm nên cuộc cách mạng lật đổ chế độ thực dân vào tháng 8 năm 1945. Lưu Hữu Phước là một thiên tài âm nhạc. Nước Pháp có Rouget de Lisle tác giả La Marseillaire sau này trở thành quốc ca Pháp. Còn Lưu Hữu Phước sáng tác những nhạc phẩm nung nấu lòng yêu nước Việt Nam vô bờ bến. Có thể nói không một nhạc sĩ Việt Nam nào sánh kịp anh. Lấy bản thân tôi để kiểm nghiệm thì thấy rõ.


Hồi còn ngồi ghế nhà trường, tôi đã thuộc rất nhiều bài hát của anh trong đó phải kể trước tiên bản Tiếng Gọi Sanh Viên đã dịch ra tiếng Pháp là Marche des Etudiants. Phải dịch là Sinh Viên Hành Khúc thì mới đúng, nhưng nhân dân vẫn chấp nhận nó là Tiếng Gọi Sinh Viên vì nó đúng là tiếng gọi, không những gọi sinh viên mà còn gọi toàn dân đứng lên đáp lời sông núi.


Hai tiếng sông núi thiêng liêng bắt đầu làm dậy lên men yêu nước trước nhất là từ bài hát này. Lúc sáng tác nó, Lưu Hữư Phước là sinh viên ở Hà Nội và là đảng viên đảng Dân Chủ (chính vì thế mà sau này Đảng Cộng Sản truy nguyên ra, không cho ông làm Bộ Trưởng Văn Hóa của Chánh phủ Phát - sẽ xin nói sau). Khi còn đi học tôi được thầy dạy Lịch Sử nước Pháp kỹ hơn Sử Ký Việt Nam, tôi bị nhiễm ít nhiều tinh thần Jeanne d'Arc, Le Petit Barbara dans les vallées de Ronceveaux, Bayard le cavalier sans peur et sans reproche của Pháp có khi còn nhiều hơn gương yêu nước của Trưng Trắc-Trưng Nhị, Trần Bình Trọng, Thần Quốc Tuấn... Mà thật vậy Lịch Sử Pháp được giảng giải nhiều giờ hơn, bài vở bắt học trò phải thuộc lòng. Còn Sử Ký ta thì giảng sơ sài, càng lên cao càng học ít. Trận Bạch Đằng, trận Chi Lăng xảy ra năm nào, không biết, nhưng Henri IX bị một tên khùng Ravaillac ám sát thì chúng tôi gạo chắc trăm phần trăm! Cho đến khi tiếng gọi vang âm "Nầy thanh niên ơi! Đứng lên đáp lời sông núi" thì hình như tâm hồn ngây thơ của tôi mới tỉnh ngộ và dần dần rõ được mình đang đi xa dần cái gốc Việt Nam.

Đồng lòng cùng đi, đi, đi mở đường khai lối

Vì non sông nước xưa truyền muôn năm chớ quên

Nào anh em Bắc Nam cùng nhau ta kết đoàn

Hồn thanh xuân như gương trong sáng

Đừng tiếc máu nóng, tài xin ráng

Thời khó thế khó, khó làm yếu ta

Dù muôn chông gai, vững lòng chi sá

Đường mới kiếp phóng mắt nhìn xa bốn phương

Tung cánh hồn thiếu niên ai đó can trường


Điệp khúc:

Thanh niên ơi, ta quyết đi đến cùng

Thanh niên ơi, ta nguyền đem hết lòng

Tiến lên đồng tiến vẻ vang nguồn sống

Chớ quên rằng ra là giống Lạc Hồng.


Giống Lạc Hồng! Những tiếng ấy đã được nhắc trong Sử Ký Việt Nam, nay được âm điệu hóa nó ra bằng nhạc như diều gặp gió bay tung trên bầu trời Việt Nam.


Chớ quên rằng ta là giống Lạc Hồng!


Sự tích của bà Âu Cơ và Lạc Long Quân càng thêm rạng rỡ và khắc sâu vào lòng người Việt Nam như những nét rướm máu huy hoàng.


Ngày nay ta đã hiểu và đã đổ máu cho nền độc lập của xứ sở, ta thấy những tiếng ấy nó xưa đi rồi chăng? Nhưng cách đây hơn nửa thế kỷ, những tiếng Lạc Hồng mà được đưa lên môi người Việt Nam bằng dấu nhạc là những chuyện phi thường. Không có ai làm nổi ngoài Lưu Hữu Phước.

Này thanh niên ơi, nhớ xưa dấu còn chưa xóa

Hùng cường trời Nam ghi trong bảng vàng bia đá

Lùa quân Chiêm nát tan, thành công Nam Tiến luôn

Bình bao phen Tống Nguyên, từng ca câu khải hoàn

Hồ Tây tranh phong oai son phấn

Lừng tiếng Sát Đát, Trần Quốc Tuấn

Mài kiếm cứu nước nhớ người núi Lam

Trừ Thanh, Quang Trung giết hàng bao đám

Nòi giống có khí phách từ xưa chớ quên

Mong thấy ngày vẻ vang ta thắp hương nguyền.

Lời ca nào hùng tráng hơn? Lịch sử dân tộc lần đầu tiên được đưa vào lòng người bằng âm nhạc. Là do bàn tay thấn của Lưu Hữu Phước.


Hình như lời ca là do một tập thể sinh viên sáng tác trong đó đứng đầu là Lưu Hữu Phước, Huỳnh Văn Tiểng và Mai Văn Bộ, ba sinh viên Nam Kỳ học ở Hà Nội.


Bài ca này có tới bốn đoạn. Nay tôi quên mất hai đoạn nhưng còn nhớ những lời tiếng Pháp. Xin chép ra luôn.


Etudiants du sol l'appel tenace

Pressant et fort retentit dans l'espace

Des côtes d'annam aux ruines d'Angkor.

A travers des monts, du Sud jusqu'au Nord

Une voix monte ravie: Servir la chère Patrio

Toujours sans reproche et san peur

Pour rendre l'avenir meilleur

Avec fermeté et courage!

Selon les espoirs de notre âge.


Repair


Te servir chère Indochine!

Avec coeur et discipline!

C'est notre but, c'est notre loi

Et rien n'ébranle notre foi.

Etudiants notre passé de Gloire

Demeure encore dans notre mémoire

De ces grands héros qui luttaient jadis

De ces beaux pays, nous sommes les fils.

Soyons fiers de nos ancêtres

Après eux nous saurons être

Unis et forts pour mieux servir

Pour bâtir un bel avenir...



Người Pháp nghe cũng phải phục sát đất mà.


Thời kỳ đó, thực dân còn là chúa tể ở xứ ta, thử hỏi ai dám đặt những lời ca cho bài hát đó? Chuyện nghĩ ra cũng khó như chuyện làm. Nhưng họ đã làm và đã thành công rực rỡ. Từ Bắc chí Nam bài Sinh Viên Hành Khúc như một luồng bão lớn trong lòng người và lay động sông núi Việt Nam.


Những bài hát yêu nước của Lưu Hữu Phước nở rộ như hoa đã là những trận mưa rào làm sống lại mãnh liệt tâm hồn cằn cỗi Việt Nam gần một thế kỷ nô lệ bị vùi dập nhưng không chết.


Lưu Hữu Phước là một thiên thần tay đầy phép lạ. Vẫy một cái mây bay gió cuốn. Vẫy thêm một cái mưa tuôn rào rạt.


Lưu Hữu Phước đứng giữa đời như một trụ đồng treo ngọn hải đăng tỏa sáng xuyên thủng những lớp sương mù! Phải chăng, để chặn đứng ngọn triều yêu nước do nhóm sinh viên tiền tiến gây nên mà thực dân Pháp đã dựng lên phong Thanh Niên Ducoroy để đánh lạc hướng? Nhưng cội cây Lưu Hữu Phước đã nở hoa kết trái không ngừng.


Hằng loạt bài hát ra đời tiếp theo >Tiếng Gọi Sinh Viên

Chính những bài hát đó đã làm cái không khí cho người Việt Nam thở mà sau 1945, Xuân Diệu mới có câu thơ trong tập thơ tráng khúc: "Ngực lép ngàn năm thở lại rồi!"


Bạch Đằng Giang, Ải Chi Lăng, Hồn Tử Sĩ, Kinh Cầu Nguyện, Đoàn Quân Ma, Nam Tiến, Ta Cùng Đi, Bóng Người Núi Lam, Hội Nghị Diên Hồng, Hờn Sông Gianh, v.v... có đến cả trăm bài.

Đây Bạch Đằng Giang, sông hùng dũng

Của nòi giống Tiên Rồng, giống Lạc Hồng,

giống anh hùng Nam Bắc Trung

Trên trời xanh muôn sắc đua chen bóng Ô

Dưới đáy dòng nước ánh sáng vẩn vơ nhấp nhô

Kìa quân Ngô Tiên Chủ đánh thắng quân Tàu man

Kìa quân Trần Quốc Tuấn

đánh thắng quân Thoát Hoan

Nay đã bao lâu còn đâu nữa rồi

Thời giờ qua đã bôi mờ trong đêm tối

Người nay có hay đã vì chúng ta

Người hùng anh xưa giữ nước non nhà.


Điệp khúc:

Dòng nước trắng xóa dưới trời quang đãng

Từ xưa nêu cao tấm gương anh hùng

Dù có sấm sét bão bùng mưa nắng

Đằng Giang vẫn sáng để cho nòi giống soi chung.


Ta hát vang vỡ tung lồng ngực. Ta sống lại ngày xưa oai hùng của tổ tiên. Hồ Chí Minh đi thăm Đền Kiếp Bạc ở Hải Dương đã dám ngạo mạn tự sánh mình với Hưng Đạo Đại Vương, gọi người bằng Bác một cách xấc láo:


Bác đưa một nước qua nô lệ

Tôi dắt năm châu đến đại đồng!


Rồi bọn Phạm Văn Đồng, Lê Duẩn dắt Chu ân Lai đi cúng miếu Liễu Thăng ở Chi Lăng. Nhục nhã thay cho lớp con cháu phản thùng tổ tiên. Một Chi Lăng được tái sanh bằng những dấu nhạc của Lưu Hữu Phước:

Chi Lăng! Chi Lăng! (một hồi trống)

Tiếng ai hò reo vang trời (một hồi chiêng)

Chi Lăng! Chi Lăng! Bóng ai tranh hùng muôn đời

(trống chiêng nổi lên cùng một lúc)

Trời âm u, gió tung rú lên rít lên ào ào

Rừng thông rên siết dưới luồng bão.

Lời ai phải chăng thần thánh.

Hồn ai phải chăng hùng anh.

Vì nước thét quân đột xông.

Làm cho rõ giông Tiên Rồng!

Hồi nhớ tới vó câu tập tễnh lướt qua làn khói,

giáp chiến!

Hồi nhớ tới bóng muôn cờ xí phất tung hùng vĩ,

cố tiến

Vì nước tuốt gươm xông pha

Lòng trung cứu dân lầm than

Đồng hát khúc anh hùng ca

Bền gan kết tâm cường tráng

Khuất Nam Bình Bắc oai hùng luôn tiến

Trống chiêng vang rền (ba hồi chiêng).

Tôi nghe hai bài hát này lần đầu tiên tại rạp Nam Xuân (Bến Tre) hay ở đâu tôi cũng quên rồi - đã hơn năm mươi năm, khó lòng mà nhớ được, nhưng hình ảnh các anh chị mặc đồng phục mặt tươi như hoa, đồng ca đã làm rúng động con người nghe chứ không phải chỉ những xúc cảm như những buổi xem hát bình thường.


Công lớn đó của ai? Cộng Sản cố tình quên đi hoặc phủ nhận. Bản tính của chúng là thế. Người đời thường trách vua Gia Long khi lên ngôi chém tướng Nguyễn Văn Thành, thường chê Việt Câu Tiễn khi lấy lại được giang sơn thì trung thần không ở được. Văn Chủng bị giết, Phạm Lãi biết thân đã bỏ đi. Nhưng người ta không biết Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản còn phản phúc gấp trăm Gia Long và Việt Câu Tiễn.


Hai bản nhạc Bạch Đằng Giang và Ải Chi Lăng đã đánh dấu một giai đoạn huy hoàng của tinh thần yêu nước Việt Nam và đã là con chim báo bão sau này - với hoạt cảnh Hội Nghị Diên Hồng:

Thần dân nghe chăng? Sơn hà nguy biến? (hai lần)

Hận thù đằng đằng biên thùy rung chuyển

Loa vang vang

Chiếu toan truyền bốn phương!

Diên Hồng tâu lên cùng Minh Đế báo ân

(Một đoàn phụ lão chống gậy. Sân khấu âm u nặng nề. Mình Đế đứng trên mặt thành, phán hỏiSmile


- Trước nhục nước nên Hòa hay nên Chiến?

(Toàn đoàn đứng cả lên, đápSmile


- Quyết chiến! Quyết chiến luôn!

Rõ chí dân hùng anh!

(Sân khấu bừng sáng. Mặt trời mọc)

- Kìa vừng hồng tràn lan trên đỉnh núi

Xa xa trông áng mây đầu non đoài

Trông quân Nguyên tàn phá non sông nhà

Đạp thành trì lang sói dày lăng miếu

(Minh Đế lại phán hỏiSmile

- Thế nước yếu biết lấy gì lo chiến chinh?

(Toàn đoàn đápSmile

- Hi sinh!

Thề liều thân cho sông núi muôn năm lừng uy.


Cảm ơn Lưu Hữu Phước. Cảm ơn các anh chị đã làm sống lại Diên Hồng năm trăm năm cũ. Đã làm sống lại non sông nước Việt bằng một tiếng đáp của toàn dân:

- Hi sinh!

Cảm ơn và cảm ơn không ngừng. Toàn dân cùng lên đường, miệng hát vang 1945

Thượng Lộ Tiểu Khúc:


Thanh niên tiến lên, nhìn xem trời mây khô héo

Kìa biên thùy xôn xao quân tở mở reo

Dân chúng đang kêu than

Thù quân Tây ác tàn

Ta (là) đi giúp nước

Lo chi nước non suy vong

Lòng muôn dân vững bền

Cùng (là) cùng tiến tới

Ca (là) ca vang lên

Ta đi chen vai vai chen vai hi sinh.


Trẻ già trai gái cùng hát, hát như nói tiếng lòng của mình. Nét nhạc dễ dàng như một bài Kiêm Tiền Bình Bán của nhạc cổ. Thời đó ở khắp nông thôn chiều chiều nhân dân kéo ra đường tập đi ăn rập vừa đi vừa hát, bụi đường bốc lên, thật không có cảnh nào hùng vĩ bằng. Tiếp theo là bài:

LÊN ĐÀNG


I

Nào anh em ta cùng nhau xông pha lên đàng kiếm

nguồn tươi sáng

Ta nguyền đồng lòng điểm tô non sông

Từ nay ra sức anh tài

Đoàn ta chen vai nề chi chông gai lên đàng

Ta người Việt nam Việt Nam

Nhìn non sông huy hoàng, đoàn ta bước lên đàng

Cùng hiên ngang hát vang.


II

Nhìn nước non ta trời mây bao la lên đàng, kiếm

nguồn tươi sáng

Mau nhìn hoàn cầu khắp trong năm châu mà ta tung

chí anh hào

Đoàn ta đi mau lòng trai không nao lên đàng

Ta người Việt Nam, Việt Nam...


III

Kìa gương hiếu trung truyền lưu muôn năm lên đàng

Danh lừng Bạch Đằng tiếng vang Chi Lăng

Đồng tâm noi dấu anh hùng...

Ta người Việt nam, Việt Nam...

Bọn Cộng Sản là loại người vô văn hóa. Chúng phủ nhận sức mạnh của văn hóa, nhưng chính chúng nhờ cái sức mạnh của văn hóa mà ăn cướp thành công. Thử hỏi khi chúng mạo nhận cách mạng chiếm được Hà Nội, Sài Gòn, Huế, chúng có trong tay bao nhiêu khẩu súng. Chính những bài hát bài thơ hò vè tậu ra vũ khí cho chúng đấy chứ. Có phải quả bom ba càng của cảm tử quân Hà Nội nổ là do bài Tiến Quân Ca và cây tầm vông chặn đứng xe tăng là do bài Nam Bộ Kháng Chiến? Ngày nay chúng lên ngôi, chúng phủ nhận công lao đóng góp của nghệ sĩ, trong đó công lao của Lưu Hữu Phước phải được ghi ở đầu sổ chiến công. Lưu Hữu Phước là thần tượng của thần tượng trong âm nhạc Việt Nam, với những trái tim xanh ngời lòng yêu nước nở đầu tiên trong vườn hoa âm thanh yêu nước Việt Nam.

TA CÙNG ĐI (*)

Ta cùng đi, ta cùng đi

Ta không bao giờ ngã lòng.

Tay cầm tay, ta cùng bước lên đường đời

Càng đi tới tim càng thắm nồng

Hồn nước muôn năm cùng tòa non sông

Vẫn tươi vẫn sáng Rồng Nam vẫn bay

Con cháu Lạc Hồng noi tấm gương trong

Khi xưa di truyền ngàn kiếp không phai.

Ta cùng đi, ta cùng đi.

Ta cùng nhau tiên tới

Đi theo bóng cờ tốt tươi

Ta cùng tiến sánh vai cùng nắm tay nhau đồng xông pha

Dù chông gai chi sá

Ta quyết tâm, ta quyết tâm thân này xin hiến

Tuôn gai gốc ta đoạt thành

Vì ta là cháu còn Rồng Tiên hùng anh.


----------------------------------

(*) Bài hát này tôi nghe nhạc sĩ Lữ Sinh hát ở buổi Lửa Trại do sinh viên trường cán bộ huấn luyện Thanh Niên Cứu Quốc tỉnh Bến Tre tổ chức năm 1946 tại chợ Thạnh Phú. Trong buổi liên hoan này có giáo sư Hoàng Xuân Nhị vừa về nước (lấy tên là Nguyễn Đạt Hồng) tham dự. Còn tất cả các bản nhạc khác của Lưu Hữu Phước tôi đều dạy cho bộ đội và thiếu nhi trong những năm kháng chiến chống Pháp.


NAM TIẾN


Nước non xa ngàn dặm

Chúng ta đi ngàn dặm

Cùng nhau tiến, hướng về Nam

Sông núi vấn vương dưới làn khói lam

Ta liều thân càng đi càng xa

Bờ cõi Nam Quốc mở thêm thiên lý Quê Nhà Rồng

Trời nguy nga vượt khó, ta liều thân càng đi càng xa

Cố sao vẻ vang cho nòi Hồng Lạc

Bầu trời Việt mênh mông.

Lòng người Việt anh dũng.

Đất dài sông lớn khí hùng thiêng

Miền xa núi rừng gọi chúng ta

Miền xa gió Nồm giục chúng ta

Qua rừng qua núi qua đèo qua suối

Tiến lên hướng về Nam xông pha

Nguyền tràn tới rừng núi xa

Dưới trời anh bao la!


KHẢI HOÀN CA


Việt Nam mến yêu ngàn ánh vinh quang

Rạng chiếu sơn hà ngàn thu

Hình ảnh huy hoàng, hình ảnh vô biên

Chúng ta thắp hương nguyền

Ai xây tòa Sông Núi, ai gây sức Giống Nòi

Ai đem tài cao giúp lương dân

Ta xin liều thân sống, ta xin hiến tất lòng

Ta thề vì non sông báo ân

Nhìn ánh sáng, tim thắm tươi

Ta hát vang Khải Hoàn ca oai dũng

Nghìn tiếng sấm đang rền nổ trên trời thẳm

Ấy Rồng Nam reo mừng

Cờ phấp phới vương khí thiêng

Trong ánh mây

Bay vầng cùng khói hương say.

*

Tôi luôn luôn kính phục Lưu Hữu Phước như một thiên tài. Nhưng cũng cần nói thêm những ý nghĩ của tôi đối với anh. Anh hỏng cuộc đời vì chủ nghĩa Cộng Sản.


Theo tôi biết thì khoảng năm 1942 anh đang học ở Hà Nội và được Dương Đức Hiền kết nạp vào đảng Dân Chủ Việt Nam. Cùng vào đảng Dân Chủ với anh có Huỳnh Văn Tiểng, Mai Văn Bộ, Đặng Ngọc Tốt là những sinh viên người Nam Kỳ. Họ trở thành một nhóm thanh niên tiến bộ yêu nước của đảng Dân Chủ.


Khi kháng chiến bùng nổ thì anh ở Hà Nội và đi theo kháng chiến lên Việt Bắc. Không rõ trong trường hợp nào anh vô đảng Cộng Sản. Và cũng không hiểu tại sao Cộng Sản lại kết nạp anh trong lúc chúng biết anh là đảng viên đảng Dân Chủ? Có lẽ vì tranh giành ảnh hưởng. Đảng Dân Chủ trong cuộc kháng chiến chống Pháp có ảnh hường rất lớn. Trong Nam Bộ đảng Dân Chủ có tổ chức từ quận tỉnh đến xứ. Kỳ ủy đảng Dân Chủ Việt Nam cũng có cơ quan đóng và làm việc như Trung Ương Cục Miền Nam mà bí thư kỳ ủy là ông Nguyễn Việt Nam. Sinh viên và trí thức ở thành ra gia nhập rất đông. Khi tập kết ra Bắc, tôi không biết đảng Dân Chủ biến dạng đi đâu mất. Và nghe nói Lưu Hữu Phước đã bị nhuộm đỏ.


Bài Lãnh Tụ Ca dùng để chào cờ tôn vinh Hồ Chí Minh là của Lưu Hữu Phước sáng tác đâu khoảng năm 1946. Lời ca như sau:


Ánh hồng soi sáng chân trời Á Châu

Toàn Việt Nam sao vàng đỏ máu

Hồ Chí Minh xuất hiện trong ánh sao

Xuất hiện để cứu dân khổ đau

Hồ Chí Minh muôn năm

Dắt dẫn dân Việt Nam xây nền hạnh phúc bền lâu.


(Khi đó Đỗ Nhuận cũng có làm một bài ca lãnh tụ nhưng bị chê, không dùng). Cũng trong kháng chiến, Lưu Hữu Phước có sáng tác một bài ca ngợi Staline như sau:


Staline, ánh sáng tươi đẹp từ trời Liên Xô

Theo Liên Xô, Châu Á vươn lên bên Mao Trạch Đông

Người người quyết giữ nền Hòa Bình

Cùng vang lên chiến đấu, phá tan mọi âm mưu

Thế giới vang ca ngợi Staline

Bốn phương trời nở hoa là nhờ Staline

(Nước non Việt nở hoa là nhờ Staline! - đoạn II)



Lưu Hữu Phước bị nhuộm đỏ nên tự mình quên hồn dân tộc, lao theo Sao vàng đỏ máu quên tổ tiên:

Trời mây u ám, gió cuốn tả tơi hoa cỏ

Thời xưa lưu dấu âm vang nỉ non trong gió

Nhà đây nước đấy gánh vác hai vai vẹn toàn

Tưởng nhớ tới bao khi ai kia cỡi sóng Bạch Đằng hùng dũng

Tưởng nhớ tới bao khi ai kia xua quân giặc Chàm miền Trung

Chồi dậy cả thảy quyết chí chiến đấu thi gan nam nhi cùng ai

Bừng mở mắt sáng hãy ngó thế giới xem gương Duy Tân người ngoài

Rồng Nam nổi lên trợ Giống Nòi

Người Nam anh dũng quyết chiến

Chớ để tấm gương kẻ xưa chớ để thiệt thòi

Người nay có biết hỗ cùng đèn lửa

Nào ai nghe tới những tiếng nước non đâu nữa

Người nay đân tá, có khóc những khi trời chiều.


Những bài hát này tôi nằm lòng thuở thiếu thời, nay đã hơn nửa thế kỷ vẫn chưa quên. Tấm lòng của người nhạc sĩ yêu nước vẫn thắm tươi muôn thuở, nhưng Cộng Sản không hề nhắc đến để tuyên dương một tiếng vì nó có cái tên là Kinh Cầu Nguyện.

Đêm khuya âm u ai khóc than trong gió đàn

Hay quân Trưng Nữ Vương...

Hồn ai đang thổn thức trên không

Hồn quân Nam đang khóc non sông

Quyết chí chiến đấu đem tấm thân nhuộm máu đào nơi gươm dáoo

Dù nát không nao.

Hồn nước đang thét gào, gió vang tiếng nguyền cùng gươm đao...


Lời ca bi tráng biết bao nhiêu. Nhưng khi lao theo sao vàng đỏ máu thì Trưng Vương và Hưng Đạo cũng không còn trong Lưu Hữu Phước. Hồn nước đã hóa thành hồn ma và nhạc sĩ thiên tài trở thành nhạc sĩ ma. Ta hãy đem lời ca của bất cứ bài hát nào của anh sáng tác trước 45 so sánh với những bài chống Mỹ cứu nước ta sẽ thấy Lưu Hữu Phước không còn là nghệ sĩ của nàng Ly Tao mà là một cán bộ chính trị đang hô khẩu hiệu.


Giải phóng Miền Nam, chúng ta thề quyết tiến bước

Diệt đế quốc Mỹ phá tan bè lũ bán nước ..v.v...

Xuống đường, xuống đường! Đập tan mọi xích xiềng

... v.v...



So sánh với Tiếng Chim Gọi Đàn của cùng một tác giả:

Tiếng chim gọi đàn trong sương sớm

Vang trong trời xa như giục lòng trong gió sương

Ngang mây thiết tha lời ca còn dư vang

Trông chim bay dần xa nhưng gọi đàn như nhắn sang...

Đây bài Đông Nam Á Châu làm theo chánh sách Cộng Sản:


Màn trời vén, ánh nắng mới chiếu trùm muôn cõi

Á Châu ngục tù

Đây Việt Nam, đây Ấn Độ,

đây Diến Điện, đây Trung Hoa

Thế giới chờ ta vùng lên!



Lời ca hô hào suông rỗng tuếch. Chính Việt Cộng ngày nay cũng xếp xó những cái khẩu hiệu được âm nhạc hóa này. Mọi xích xiềng của đế quốc Cộng Sản đã đập tan. Vâng! Để Cộng Sản đem những xích xiềng mới thay vào.


Đông Nam Á Châu ngục tù, nay Việt Nam Cộng Sản là nhà tù lớn nhất và dân Việt Nam nghèo đói nhất Đông Nam Á Châu. Mã Lai, Phi-líp-pin dân mỗi đầu người thu hoạch trên hai chục ngàn đô một năm. Thấp nhất là Nam Dương cũng được một ngàn đô. Dân Việt Nam: Hai trăm! Đó là kết quả của sao vàng đỏ máu mang lại, sau khi phá tan bè lũ bán nước và diệt đế quốc Mỹ.


Ngày xưa Việt Nam Cộng Hòa đứng trên các nước Thái Lan, Mã Lai, Trung Cộng, nay phải quì mọp đi xin kỹ thuật của các nước này để xuất cảng sang nước họ: Kỹ thuật buôn lậu và tham ô.


Chế Lan Viên đã nói trước khi qua đời:


- Trong mười năm nay chúng ta có làm được gì đâu ngoài việc xuất cảng sang các nước láng giềng: nghèo đói!



*

Một buổi chiều Hà Nội, anh đang đứng thơ thẩn trước sân thì một chiếc xe Bobéda sà tới. Một người to béo phục phịch bước xuống xe đi vào nói nhỏ dăm ba câu với anh rồi hai người cùng lên xe đi đến đường Quan Thánh. Trên đường đi, Lưu Hữu Phước mới hay cớ sự.


Lưu Hữu Phước được com-măng làm một bài hát.

Đến nơi, vô villa, gặp me xừ Sáu Lừa. Hắn mời anh ngồi và nói:

- Trung Ương cần một bài hát cho Mặt Trận Giải Phóng.

- Dạ.

- Đồng chí có thể làm nhanh được không?

- Dạ để coi nội dung thế nào.

- Nội dung là đánh Mỹ, diệt Ngụy giải phóng Miền Nam.

- Dạ được ạ!


Lưu Hữu Phước về nhà mở đàn piano ra dạo mấy tua và viết ngay trong đêm bài Giải Phóng Miền Nam. Chiều hôm sau ông to béo lại đem xe tới chở anh lên dinh Sáu Búa. Nhưng bữa nay Lưu nhạc sĩ và ông to béo kia được đãi một bữa gà xé phay cơm chiều.


Cơm xong... Lưu Hữu Phước hát cho Sáu Búa nghe. Sáu Búa bảo:

Tốt lắm, nhưng tôi còn phải thông qua Bộ Chính Trị.

- Vâng ạ.


Mấy hôm sau trên đài Phát Thanh Hà Nội, nghe ồm ồm bài Giải Phóng Miền Nam của nhạc sĩ Huỳnh Minh Siêng từ Miền Nam gởi ra.


Thế giới, nhân loại ngây thơ tưởng thiệt. Dân Hà Nội còn tưởng thiệt nữa là ai!


Huỳnh Minh Siêng là ai, thiên hạ thần dân ngơ ngác hỏi. Huỳnh Minh Siêng là ai? Có trời mới biết? Thế giới đổ xô tới hoan hô Mặt Trận Giải Phóng. Lão già Russel bên Anh cũng chõ mõm sang sủa gâu gâu phụ họa. Thế là Mặt Trận Giải Phóng ra đời.


Lưu Hữu Phước ăn bữa cơm gà xé phay nuốt vừa qua khỏi cổ thì lại được gọi đi B vô trường Nguyễn Ái Quốc ở Ô Cầu Giấy tập mang gạch leo núi như những B viên khác. Nhưng ai cũng biết Lưu nhạc sĩ vô Nam làm Bộ Trưởng Bộ Văn Hóa của Nguyễn Hữu Thọ.


Lưu Hữu Phước tập mang gạch qua loa cùng với Diệp Minh Châu họa sĩ người Bến Tre. Rồi hai vị này biến mất khỏi trường. Diệp Minh Châu đau bao tử không đi được. Còn Lưu Hữu Phước thì biến luôn không thấy trở lại trường. Ba tháng sau khi đám B viên lội Trường Sơn vô tới R thì thấy Lưu nhạc sĩ đã ở trong Rờ, với chức trưởng tiểu ban Văn Nghệ R.


Lúc bấy giờ có chàng Thủy Thủ ở Sài Gòn ra nhập bọn ở đây (rồi sau này tự sát bằng AK). Cùng ra với anh chàng này còn có Lữ Phương, Thanh Nghị, Phan Lạc Tuyên.


Lúc đó Chánh Phủ Huỳnh Tấn Phát chưa diễn trò nên các vị này còn tạm thời núp trong bụi rậm lo nuôi gà... mái để lấy trứng vàng.


Khi Nguyễn Hữu Thọ bị đá văng từ chức Chủ Tịch Mặt Trận lên chức Hội Đồng Cố Vấn với họ Trịnh, thì các vị Phương, Nghị được xách óc lên cho ngồi ghế Thứ Trưởng Bộ Văn Hóa của cái chánh phủ "hết" thời của Huỳnh Tấn Phát.


Còn Lưu nhạc sĩ thì làm Bộ Trưởng Bộ Văn Hóa, bỏ cái tên Huỳnh Minh Siêng cũ, để chường mặt ra với tên Lưu Hữu Phước đỏ lòm.


Lúc bấy giờ họ Lưu cũng không có việc gì làm, nhưng không nuôi gà mái như Lữ Phương và Thanh Nghị - Ông làm con rối trong ban Tình Báo R, nghĩa là viết thư gởi cho các ông bà trí (bị ru) ngủ của Sài Gòn, kêu gọi ủng hộ Mặt Trận hoặc ra bưng.


Họ Lưu có cô em gái tên là Lưu Thị Dung ở đường Đoàn Văn Bửu. Cô này chuyên làm liên lạc trao thư. Về sau khi ông anh bị đá văng khỏi ghế Bộ Trưởng ma, cô ta mới đau cái mòng gà mái suýt tác quái gà cồ.


Sự nghiệp của Lưu Hữu Phước chấm dứt ở cái chức vụ ma này. Đây là một cuốn tiểu thuyết dài ngàn trang, nhưng tôi chỉ tóm tắt trong dăm bảy trang có ăn thua chi!


Lưu Hữu Phước gốc đảng viên đảng Dân Chủ được đảng chiếu cố xài xể một thời gian rồi thôi, đâu vào đấy. Ghế ba chân ngồi tạm bằng ấy năm cũng đã vinh quang chán rồi. Chẳng bằng ngồi dưới đít thằng nhà thơ xỏ lá à?



*

Một buổi sáng năm nào đấy, tôi được một cú phôn cho hay Lưu Hữu Phước đã qua đời. Tôi bàng hoàng tê tái cả tâm can. Thôi thế là hết Bạch Đằng, Chi Lăng, hết Hồn Tử Sĩ, hết Kinh Cầu Nguyện, chỉ còn lại có Hờn Sông Gianh.

Trên sông chơi vơi gió đưa hiu hắt tự phương xa vời

Lan theo cơn gió bấp bênh máu của ai pha hồng dòng sông

Lao theo cơn gió, tiếng của ai thầm khóc trên lưng sóng

Thôi nhắc nhở chi Nam Bắc khi bạo tàn tàn sát sanh linh

Ôi Sông Gianh lòng mi đau đớn dòng mi căm hờn

Chưa xóa hết những cơn tương tàn

Chưa thấy ngày vẻ vang!

Bây giờ anh đã xa chơi suối vàng nhưng mối hận Sông Gianh chưa tan.



Anh có biết đâu anh mất cái ghế kia chính vì tên Sáu Búa đã biết anh từng là đảng viên đảng Dân Chủ. Hơn nữa hắn đã từng cụp với mụ Bình ở Paris nên hắn cho mụ cái ghế đó mà không cho anh. Mười cái ghế đó chồng lên hãy còn là thấp so với tài năng của anh. Nhưng trong chế độ Cộng Sản tài năng cân không nặng bằng cái.... của và của...


Đau đớn thay cho nhạc sĩ! Khởi đầu bằng Ta cùng đi và vầng hồng tràn lan trên đỉnh núi mà kết thúc thì với đêm âm u ai khóc than trong gió đàn. Đây là một kinh nghiệm cho ta thấy địa vị của nghệ sĩ ở trong lòng khán giả chớ không ở chức tước hành chánh. Người dân Pháp ngày nay nhớ Lamartine tác giả Graziella và Méditations Poétiques, A Eloire chớ không ai nhớ Lamartine là Thủ Tướng nước Pháp.


Xuân Vũ
Văn Nghệ Sĩ Miền Bắc Như Tôi Biết, Tập III
Nxb Xuân Thu, 1998



Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gởi tin nhắn Gởi email
tamsuotngay



Ngày tham gia: 17 3 2010
Bài gởi: 11247

Bài gởiGởi bởi: Sáu 4 05, 2019 3:14 pm    Tiêu đề:


Lưu Hữu Phước vỡ mộng thì tụi bây cũng VỠ MỒM, VỠ MẶT vì đã lỡ há miệng mắc quai - mê mẩn vinh danh nhạc của một tay thân cộng, sau này là một Bộ Trưởng cộng sản gộc, huân chương cộng hạng nhất, thậm chí tên của trự ấy được cs nó lấy đặt tên đường ... Một tay nhạc sĩ mà cái lập trường đỏ loét đã được xưng ra từ rất sớm (trước cả khi cái chính thể VNCH được ra đời).

Đã lỡ làm con két cắt dán ịn, chuyên viên “lượm lựu đạn” thì lượm luôn mấy bộ combo “thuốc nổ” Tiến về Sài Gòn, Giải phóng miền Nam, Hành khúc giải phóng, Dưới cờ Đẻng dzẻ dzang ... này của trự ấy luôn nè con chột lẹo. Khỏi cần cs nó tuyên truyền, chính tụi bây giúp nó bất chiến tự nhiên thành. Ăn ở mần sao mà một tay nhạc sĩ có tài lại bỏ “chánh nghĩa” của tụi bây vậy?

Mày thấy mày ăn cám xú chỗ nào chưa? Cứ đưa mặt “bỏ ngõ” cho đối phương đục thoải mái là sao?



Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gởi tin nhắn
tamsuotngay



Ngày tham gia: 17 3 2010
Bài gởi: 11247

Bài gởiGởi bởi: Sáu 4 05, 2019 4:38 pm    Tiêu đề:


Còn đây, coi bò Cc làm trò ngu xuẩn hết chỗ nói luôn - Happy Birthday vua Hùng.

Giỗ tổ với bò Cc nghĩa là bánh kem và hát bài chúc mừng ngày ổng ra đời (chứ không phải ngày giỗ) đó.

Trùi ạ, thử tưởng tượng lũ bò Cc này mà về lãnh đạo VN, khai dân trí cho hậu sinh VN chắc thế hệ hậu sinh đội quần thay đội nón quá.

Có mày trong đám giỗ tổ này không con chột lẹo MT?





Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gởi tin nhắn
Trình bày bài viết theo thời gian:   
Gởi bài mới   Trả lời chủ đề nầy    Diễn Đàn MẪU TÂM -> TIN TỨC VĂN NGHỆ - THỜI SỰ HẢI NGOẠI Thời gian được tính theo giờ Việt Nam PST (U.S./Canada)
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3 ... , 14, 15, 16  Trang kế
Trang 15 trong tổng số 16 trang

 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gởi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn
|   Register   |   Tin nhắn riêng   |   Đăng Nhập

Powered by -php_BB- Copyright © mautam.net, 2005. All Rights Reserved