Âm nhạc miền Nam và NHỮNG NGÀY XƯA THÂN ÁI
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3 ... 41, 42, 43 ... 45, 46, 47  Trang kế
 
Gởi bài mới   Trả lời chủ đề nầy    Diễn Đàn MẪU TÂM -> TIN TỨC VĂN NGHỆ - THỜI SỰ HẢI NGOẠI
Xem chủ đề trước :: Xem chủ đề kế  
Tác giả Thông điệp
Tre xanh



Ngày tham gia: 05 3 2008
Bài gởi: 11064

Bài gởiGởi bởi: Ba 4 23, 2019 8:55 pm    Tiêu đề:

Hoàn cảnh sáng tác “Những Đóm Mắt Hỏa Châu” và hình ảnh của ‘hỏa châu’ ở đô thành Saigon ngày xưa

by dongsongcu
nhacxua.vn

“Những Đóm Mắt Hỏa Châu” là một trong những bài hát đầu tiên trong sự nghiệp của nhạc sĩ Hàn Châu, và cũng là một trong những bài nhạc thời chinh chiến được công chúng yêu thích nhất. Bài viết này sẽ tìm hiểu về hình ảnh “hỏa châu” và hoàn cảnh sáng tác của bài hát bất hủ này.

Trong tờ nhạc bài hát Những Đóm Mắt Hỏa Châu phát hành trước năm 1975, nhạc sĩ Hàn Châu ghi lời đề tựa như sau: Mượn tựa một bài thơ của thi sĩ Tường Linh.

Người viết đã tìm mọi cách để tìm hiểu đó bài thơ đó của thi sĩ Tường Linh là bài thơ như thế nào, nhưng chịu thua không tìm thấy được. Khi gặp nhạc sĩ Hàn Châu, tôi hỏi ông về bài thơ đó của Tường Linh, thật bất ngờ là ông cũng nói rằng chưa từng thấy mặt mũi bài thơ đó ra sao cả.

Kể về hoàn cảnh sáng tác của bài hát này, nhạc sĩ Hàn Châu cho biết trong một buổi tối năm 1968, khi nghe đài phát thanh công bố giải của một cuộc thi thơ, có một bài thơ mang tên Những Đóm Mắt Hỏa Châu của thi sĩ Tường Linh được giải nhất. Nhạc sĩ Hàn Châu đã mượn tựa đề bài thơ đó để viết thành bài hát mà sau đó đã trở thành bất hủ. Như vậy là nhạc sĩ chỉ nghe tựa đề thôi chứ cũng chưa được đọc nội dung bài thơ như thế nào.

Hoàng Oanh – Những Đóm Mắt Hỏa Châu – Thu Âm Trước 1975

https://www.youtube.com/watch?v=Ntd_n4PbpGI



Năm 1968, nhạc sĩ Hàn Châu vừa tròn 21 tuổi để đi vào quân ngũ, những tác phẩm đầu tay của ông đều là nhạc về người lính: Ngõ Hồn Qua Đêm, Thành Phố Sau Lưng, Ngày Mai Tôi Về, Tình Người Đầu Non, Lời Trần Tình, Viết Trên Cao… và đặc biệt là Những Đóm Mắt Hỏa Châu. Thời điểm đó ở ngoại ô Sài Gòn, nhìn về phía Củ Chi, Hóc Môn thường sáng rực những đèn hỏa châu trong đêm tối. Người dân ở thành đô đã quen thuộc với những ánh đèn đó. Nhân lúc nghe được tên bài thơ Những Đóm Mắt Hỏa Châu, nhạc sĩ Hàn Châu đã cảm tác mà viết nên một câu chuyện tình đẹp thời chiến:

Dưới ánh châu hồng anh ngồi gọi thầm tên em
Mơ một ngày mai pháo nổ vang trên lối về…

Nhìn ánh hỏa châu đỏ rực, là hình ảnh tiêu biểu cho những năm tháng chinh chiến hãi hùng, nhưng nhạc sĩ vẫn liên tưởng hỏa châu là ánh mắt người yêu, rồi trở thành hoa đăng ngày cưới khi một mai chiến chinh kết thúc.




Giới trẻ ngày nay thường nghe tới “hỏa châu” trong thơ và nhạc ngày xưa, nhưng có lẽ chưa bao giờ được thấy tận mắt những đóm hỏa châu.

Hỏa châu, hay còn được gọi tên khác là pháo sáng, bao gồm có 2 loại, đó là Pháo Thắp Sáng và Pháo Tín Hiệu (signal).

Pháo thắp sáng là để soi rọi cả 1 vùng để phục vụ cho việc tác chiến, còn pháo tín hiệu là để ra hiệu cho một đơn vị khi phát hiện có tình hình đặc biệt, hoặc là đánh tín hiệu cấp cứu.



Những trái sáng hỏa châu được bung dù trên không, khi tắt và rơi xuống đất thì còn lại miếng dù có đường kính có thể lên đến 4m, dân chúng lượm lấy dù rồi cột túm 4 góc làm mùng để giăng tránh muỗi.


Có 3 cách bắn hỏa châu:

Thứ nhất là loại cầm tay phóng từ dưới đất. Loại này có kim hỏa, khi thụt tay, dọng xuống đất làm cho hạt nổ phát lửa và quả pháo bay lên trời nhờ liều phóng, cách thức giống như phóng tên lửa. Dù của loại pháo sáng này có đường kính chỉ khoảng 0.4m.



Cách phóng thứ 2 là bắn bằng súng cối, sáng được lâu hơn. Có 3 loại súng cối bắn hỏa châu là 60mm, 81mm và 106mm. Loại pháo sáng bắn bằng súng 60mm có dù to chỉ bằng chiếc thúng, loại bắn bằng súng 81mm có dù nhỏ hơn cái nia (đường kính khoảng 1m); loại bắn bằng súng 106mm có dù đường kính khoảng 1.5m.



Cách thứ 3 là hỏa châu được máy bay thả dù xuống, sáng được cả một vùng rộng lớn. Loại pháo này có thân bằng nhôm, đường kính khoảng 12cm, dài khoảng 1,2m, khối thuốc dài cỡ 60cm nên thời gian chiếu sáng rất lâu. Dù của pháo có màu trắng đường kính lên đến 4m.


Bài hát Những Đóm Mắt Hỏa Châu trước năm 1975 được ca sĩ Hoàng Oanh thu âm đầu tiên trong đĩa nhựa, sau đó được Phương Dung và Băng Châu hát lại trong băng cối và cũng rất được yêu thích.

Đông Kha



Băng Châu - Những Đóm Mắt Hỏa Châu - Thu âm trước 1975

https://www.youtube.com/watch?v=CTddP4rm0cw








Những Đóm Mắt Hỏa Châu - Karaoke

https://www.youtube.com/watch?v=DtXx8OpCBRo




Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gởi tin nhắn Gởi email
Tre xanh



Ngày tham gia: 05 3 2008
Bài gởi: 11064

Bài gởiGởi bởi: Tư Tháng 5 01, 2019 6:15 pm    Tiêu đề:

Hoàn cảnh sáng tác ‘Một Chuyến Bay Đêm’ và ‘Chúng Mình 3 Đứa’ của Song Ngọc và Hoài Linh

Đông Kha-nhacxua.vn

Bài hát Một Chuyến Bay Đêm có nội dung là lời tâm sự của người phi công thường phải xuất kích vào trời đêm. Bài hát được nhạc sĩ Song Ngọc sáng tác nhạc và nhạc sĩ Hoài Linh viết phần lời.


Hoài Linh là nhạc sĩ được người đời ca tụng là người đặt lời ca hay nhất. Những bài hát do ông sáng tác hoặc đặt lời ca luôn đậm chất thơ, lãng mạn, vì vậy mà có rất nhiều nhạc sĩ khác, dù rất nổi tiếng nhưng vẫn nhờ Hoài Linh đặt lời giúp trong một vài bài hát, như nhạc sĩ Minh Kỳ với Biệt Kinh Kỳ, Cánh Buồm Chuyển Bến, Chuyến Tàu Hoàng Hôn, Sầu Tím Thiệp Hồng, nhạc sĩ Nguyễn Hiền với Chuyện Đêm Mưa, nhạc sĩ Mạnh Phát với Về Đâu Mái Tóc Người Thương và nhạc sĩ Song Ngọc với Chúng Mình Ba Đứa, Thiệp Hồng Anh Viết Tên Em, Một Chuyến Bay Đêm.

Với bài Một Chuyến Bay Đêm, đây không chỉ là một lời bài hát nhạc vàng thuần túy mà nó còn phản phất chất thần thoại Trung Hoa và bàng bạc nhân sinh quan (theo lời của Hoài Nam SBS Úc Châu), đặc biệt là qua câu hát “Đường Minh Đế nhàn dù thăm tinh cầu”.

Một Chuyến Bay Đêm - Thanh Thúy

https://www.youtube.com/watch?v=thakxS3iwIM







https://www.youtube.com/watch?v=SAO0BuoObXs





Hồi hai mươi năm trước, khi lần đầu nghe Thanh Thúy hát Một Chuyến Bay Đêm, người viết đã không hiểu “đường minh đế” nghĩa là gì, tưởng là “đường mình đến”. Nhưng nếu như vậy thì câu hát trở thành vô nghĩa nếu ghép với mấy chữ sau đó là “nhàn du thăm tinh cầu”. Sau này, khi tìm hiểu lời gốc, thì lời chính xác là “Đường Minh Đế (viết hoa) nhàn du thăm tinh cầu…”. Trong tờ nhạc gốc phát hành trước 1975, chữ “Đường” viết hoa, chứ không phải là “đường” trong chữ con đường. Từ trước đến nay, không có con đường nào tên là Minh Đế ở Việt Nam.

Thực ra, “Đường Minh Đế”là một tên khác của Đường Minh Hoàng, vị vua vong quốc nổi tiếng của Trung Hoa, u mê vì tình nên dẫn đến loạn An Lộc Sơn.

Câu hát này có nghĩa là người phi công bay giữa bầu trời đêm mà tưởng tượng mình là vị đế vương nhàn du giữa vũ trụ. Có truyền thuyết rằng vua Đường Minh Hoàng đã có cơ hội viếng thăm “cung nguyệt điện” của chị Hằng. Vì thế, người phi công khi bay trên trời vào những đêm đầy sao, đã ví mình như vị vua Đường.

Điều này được chính tác giả Song Ngọc xác nhận trong mặt sau của một tờ nhạc với lá thư ghi tựa đề: Viết cho Hương. Đoạn thư này cũng giải thích toàn bộ ý nghĩa của bài hát Một Chuyến Bay Đêm.

Mời đoạn đọc đoạn thư này dưới đây:

Đêm nay trong chuyến bay độc hành giữa bầu trời lồng lộng, anh cố tìm đôi mắt em ẩn hiện giữa các vì sao. Tiếng động cơ vi vu như một điệu nhạc đưa tiềm thức anh tìm về quá khứ.

Thuở ấy, tuổi thơ trong trắng và mang nhiều mộng đẹp. Nhìn trời cao thăm thẳm nhiều lần anh ước được như cánh diều bay bổng lên không trung để níu áo chị Hằng đang ngồi đan áo cho chú Cuội bên sông Ngân. Chuyện đời ai có thể ngờ Hương nhỉ! Hai mươi năm sau mộng thành sự thật. Bây giờ trong MỘT CHUYẾN BAY ĐÊM nhớ lại dĩ vãng thốt nhiên anh mỉm cười.

Hương ơi! chỉ có những kẻ vào đời với đôi cánh bằng khát gió như chúng anh mới có được tâm trạng đêm đêm “Ta là Đường-Minh-Hoàng vân du nguyệt điện”.

Đêm nay nhớ về gác trọ ngày xưa có đôi mắt đẹp mà cả 3 đứa ưa. Nhớ em cũng nhiều mà thương tụi nó không ít. Không hiểu giờ này chúng nó ở đâu? lênh đênh nơi biển cả hay đang gối súng nơi rừng sâu? Chao ôi là nhớ!

Hương ơi! ghi vội những giòng này giữa lúc mà anh tin chắc rằng nhân loại đang say sưa trong giấc điệp trong đó có Hương và những người thân yêu của anh.

Bình minh đang ló dạng, cho phép anh ngừng bút và hẹn thư sau…


Đọc bức thư này, những người yêu nhạc vàng sẽ cảm thấy thú vị vì chợt hiểu ra “đôi mắt đẹp mà cả 3 đứa ưa” trong bài hát Chúng Mình Ba Đứa (cũng của Song Ngọc và Hoài Linh sáng tác) chính là người con gái tên Hương – người vinh dự được ba anh lính ở 3 binh chủng khác nhau theo đuổi. Chúng ta có thể thấy sự liên kết giữa hai bài hát Một Chuyến Bay Đêm và Chúng Mình Ba Đứa, qua câu hát này:

…chạnh thương hai đứa giờ gối súng nơi nào… (bài Một Chuyến Bay Đêm)

Chúng Mình 3 Đứa (S.Ngọc, H.Linh) Nhật Trường, Như Thủy (Dĩa Hát Tân Thanh TT-66-7-A001 - Pre 1975)

https://www.youtube.com/watch?v=lajABTFQ8aQ







Karaoke Chúng Mình Ba Đứa

https://www.youtube.com/watch?v=xQMkmNR4oI8




“Hai đứa” trong câu này chính là hai người bạn khác (thuộc bộ binh và hải quân) trong “3 đứa” của bài hát Chúng Mình Ba Đứa. Ba người bạn thân này cũng đã “lâu lắm chẳng gặp nhau”… trong bài Một Chuyến Bay Đêm.

Chúng Mình Ba Đứa và Một Chuyến Bay Đêm là hai sáng tác bất hủ về người lính của Song Ngọc và Hoài Linh với nét nhạc bay bổng, lời ca đầy chất thơ, cũng giống với một bài hát khác cũng do hai nhạc sĩ này kết hợp sáng tác:

Ðôi đứa đôi nơi ngày đầu tiên biết tin nhau là tin cuối
Chát cay đầu môi chiều khu chiến mưa sụp sùi
Nhìn trong lòng giấy nét quen xưa nghiêng đỗ gãy
Nó đi nhưng còn đây… (bài Nó Và Tôi)




Bài hát được gieo vần như bài thơ này đúng là một thương hiệu không thể nhầm lẫn của nhạc sĩ Hoài Linh. Bài hát này được ký bút danh là Song Ngọc – Vọng Châu, trong đó Vọng Châu là một bút danh khác của nhạc sĩ Hoài Linh.

Dưới đây là lời bài hát Một Chuyến Bay Đêm được chép lại từ tờ nhạc gốc phát hành trước năm 1975:

Giữa lòng trời khuya muôn ánh sao hiền,
Người trai đi viết câu chuyện một chuyến bay đêm.
Cánh bằng nhẹ mơn trên làn gió
Đời ngây thơ xưa lại nhớ lúc mình còn thơ.

Nhìn trời cao mà reo, mà mơ ước như diều
Để níu áo Hằng Nga, ngồi bên dãy ngân hà.
Giờ sống giữa lưng trời
Đôi khi nhớ chuyện đời mỉm cười thôi.

Đêm nay chuyến bay trời xanh như màu áo
Đường Minh Đế nhàn du thăm tinh cầu,
Chạnh thương hai đứa giờ gối súng nơi nào
Lâu lắm chẳng gặp nhau.

Bạn bè dù cách xa nào khuây,
Tình nàng chưa nói nhưng mà say.
Giai nhân hỡi khóe mắt em u hoài
Theo tìm trong chuyến bay.

Có người hỏi phi công ước mơ gì?
Người ơi nhân thế muôn màu nào biết mơ ước chi?
Ước rằng từ khi tung nhịp cánh
Tình ta yêu thương là gió, nhân tình của mây.

Ở đời ai hiểu ai, người bay trắng đêm dài,
Thì thức giữa đại dương,
Dù yên giấc ven rừng,
Bạn có biết chuyện này
Tôi ghi lúc vũ trụ còn ngủ say.

Đông Kha

Nguồn: https://nhacxua.vn/hoan-canh-sang-tac-mot-chuyen-bay-dem-va-chung-minh-3-dua-cua-song-ngoc-va-hoai-linh/
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gởi tin nhắn Gởi email
Tre xanh



Ngày tham gia: 05 3 2008
Bài gởi: 11064

Bài gởiGởi bởi: Sáu Tháng 5 03, 2019 8:17 pm    Tiêu đề:

Ý nghĩa của Khu Bưu Chính trong bài hát “Viết Từ KBC”



“Viết Từ KBC” là một bài hát nhạc vàng nổi tiếng của nhóm nhạc sĩ Lê Minh Bằng. Nhiều người yêu nhạc đã biết ý nghĩa của chữ KBC, tức là Khu Bưu Chính. Hồi 50-60 năm trước, phương tiện liên lạc xa chủ yếu là qua thư từ, những tâm tư, tình cảm của người lính và nơi hậu phương đã được chuyên chở bằng những bao thư và con tem qua KBC. Bài viết này sẽ nói thêm một số chi tiết liên quan đến Khu Bưu Chính.

“Từ KBC giá lạnh rừng sâu,
Anh gởi lời thăm về em yêu dấu
Qua bao ngày chúng mình xa nhau,
Chắc em để phấn son nhạt màu
Và buồn trong cả giấc chiêm bao…”


KBC có nghĩa là “Khu Bưu Chính”. Là một đơn vị chuyên về nhận và chuyển phát thư từ, điện tín quân đội. Tương tự như chữ Quân Bưu, tức là KBC chỉ có trong quân đội của miền Nam, còn khu vực dân sự thì không có Khu Bưu Chính mà ghi số nhà trên bao thư như thông thường.

Quân đội của một quốc gia bao gồm nhiều binh chủng, mỗi binh chủng có một số hiệu của đơn vị khác nhau. Khu bưu chính muốn chuyển phát thư từ chính xác đến từng quân nhân đều căn cứ theo số hiệu KBC của đơn vị đó. Ví dụ: Muốn gửi thư đến một quân nhân tên là Nguyễn Văn A thì trên phần địa chỉ gửi đi phải viết là:

Nguyễn Văn A – KBC … , với phần … sẽ là số hiệu gồm 4 chữ số để nhận biết chính xác đơn vị của người lính đó.

Ví dụ như trong hình dưới đây là bao thư có hiển thị các Khu bưu chính: KBC 3328, KBC 4595. Có thể thấy cả người gửi thư lẫn người nhận thư trong trường hợp này đều ở trong quân ngũ. Người con trai là lính hải quân trong hạm đội Vạn Kiếp HQ.14. Người con gái là Vũ Thị Hạnh, làm việc ở phòng tồn trữ.





Hộ Tống HạmVạn Kiếp II HQ14

Như vậy KBC được hiểu là hộp thư. Ví dụ như ngày nay ai đó viết thư cho ai, sẽ viết thêm hai chữ “HT”, có nghĩa là “Hộp thư”, sau đó thêm vào số hiệu của hộp thư đó.

Lá thư ấy khi về đến Khu Bưu Chính, những người chuyên trách sẽ căn cứ theo số hiệu KBC mà phân loại thuộc binh chủng nào, đơn vị đó đóng ở địa bàn nào, sau đó lá thư ấy sẽ được chuyển đến đơn vị đó và chuyển đến tay quân nhân Nguyễn Văn A.

Như vậy, KBC và một dãy 4 chữ số phía sau có thể hiểu là ký hiệu của một đơn vị trong quân đội. Không có ký hiệu này, không thể chuyển phát thư. Viết sai ký hiệu KBC, lá thư sẽ bị chuyển phát nhầm đến một nơi khác.

Bài hát “Viết từ KBC” nói lên tâm trạng một người lính thương nhớ người yêu với những suy nghĩ về đời lính, về tương lai, lời cáo lỗi vì để người yêu cô đơn chốn quê nhà.

Bài hát “Viết Từ KBC” không ghi rõ mã số của KBC, mà chỉ là “Từ KBC giá lạnh rừng sâu” để “viết gửi về em”, nghĩa là bài hát này là tâm sự chung của tất cả những người lính trận, không phân biệt đơn vị nào.

Như vậy, với câu hát “Từ KBC viết gởi về em” được hiểu là “Từ đơn vị đóng quân ở rừng sâu, anh viết thư gởi về em”.

Một số chi tiết khác:

Một bao thư KBC có con dấu đỏ và 4 số cho mỗi đơn vị quân đội.

KBC của quân lực VNCH được bắt đầu bằng bốn số là: 3,4,6 và 7
KBC mang số nhỏ nhất là: KBC.3001 = Tiểu đoàn 51 Pháo Binh.
KBC mang số lớn nhất là : KBC.7889 = Tiểu đoàn 475 Địa phương quân (Long Xuyên).


Một số KBC được biết nhiều nhất, đó là số KBC của Trường võ bị Đà Lạt (KBC 4027); Trường bộ binh Thủ Đức (KBC 4100); Trung tâm huấn luyện Quang Trung (KBC 4091).

Việc gửi thư của lính cũng hưởng nhiều ưu đãi của Bưu Điện, như cước phí gửi thư chỉ bằng phân nửa giá gửi thư thường của dân sự, quân đội cũng phát hành một số tem đặc biệt dành cho quân nhân, những con tem này không có giá tiền trên tem nhưng có giá trị gửi một lá thư đi. Ngoài ra, quân đội còn in thêm một số bao thư in sẵn tem trên đó để tiện lợi cho các chiến sĩ đang hành quân. Bao thư và tem quân đội được phát miễn phí cho các quân nhân hay gia đình của họ.

nhacxua.vn
Tổng hợp







TRANG MỸ DUNG - Viết Từ KBC- (Mạc Phong Linh & Hoàng Minh)


https://www.youtube.com/watch?v=5NxKdUh7XXE







Viết Từ KBC | Karaoke |


https://www.youtube.com/watch?v=E42_K9-FT4s

Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gởi tin nhắn Gởi email
Tre xanh



Ngày tham gia: 05 3 2008
Bài gởi: 11064

Bài gởiGởi bởi: Ba Tháng 5 07, 2019 5:14 pm    Tiêu đề:

"Hoa biển" - Anh Thy
Anh Khoa trình bày

South Vietnam Navy 1973


https://www.youtube.com/watch?v=C9orJMXWJ9k






Hoa Biển - Karaoke

https://www.youtube.com/watch?v=kiUPevgVRMQ



[i]TÔI SAY SÓNG

Nguyễn Văn Phước



HAI VAN HAM NINH GIANG HQ403.

Chiếc Hải vận hạm , HQ 403 , lướt trên sông Sài Gòn , đưa những tên lính thủy tò te vừa mới nhập ngủ , đi Nha Trang học tập (tháng 11 năm 1964) . Súng sính trong bộ đồ xanh Hải Quân mới được cấp phát mấy ngày trước đó , tôi leo lên boong tàu , vây thành một lối đi quanh chiến hạm , để nhìn cảnh vật xung quanh. Các bạn mới quen , đứng rải rác , mặt còn ngây thơ vô số tội , chỉ chỏ nói chuyện vui cười . Tàu chạy qua thương cảng , đến Nhà Bè rồi vào sông Lòng Tàu , cây Rừng Sát hai bên chằng chịt . Gió mát quá , các gương mặt non trẻ hớn hở , hướng nhìn về tương lai một cách háo hức .
Tàu ra cửa biển , sóng hơi nhấp nhô . Trời chập choạng tối , nhìn xung quanh lác đác chỉ còn vài bạn , họ đi lúc nào tôi không hay . Tôi thấy chóng mặt , người nôn nao , mò xuống lòng tàu kiếm chổ nằm . Tàu rộng không biết đi đâu , tôi nằm đại kế bên đống hành lý , sac marin gối ở đầu , áo mưa cấp phát phủ kín lên người vì bắt đầu có gió lạnh . Tôi kh̀ông ngủ được , tiếng sóng vỗ ì ầm bên hông tàu , nước biển văng lên hắt vào lòng tàu như những hạt mưa sa . Lâu lâu hé áo mưa nhìn lên bầu trời nhìn các vì sao để cảm nhận sự lảng mạn của các chàng thủy thủ trong bản nhạc ” Tình yêu và thủy thủ ” của Y Vân :
” ….Nhớ em điểm sao đêm ,
Đếm sao mà vấn lòng ….”
Tàu lắc qua , lắc lại , các vì sao như nhảy múa , chạy qua , chạy lại trên bầu trời như trêu tôi . Tôi nằm chịu trận , trong người khó chịu muốn nôn mửa . Bao tử tôi thót lại chực nhảy ra ngoài . Chóng mặt quá , tôi sợ nhìn các ngôi sao khủng khiếp . Làm sao đếm sao mà vấn lòng để mà nhớ , để mà thương đây nè . Tôi nhắm mắt lại để không thấy gì hết , tôi ghét các vì sao . Nhưng không ngờ , nó là những đốm sáng dẩn đường cho thủy thủ trên biển mà sau nầy tôi phải học thuộc nằm lòng .

Tàu đến Nha Trang vào ngày hôm sau . Tôi loạng choạng đứng dậy , hai chân yếu xìu , sac marin trên vai sao mà nặng quá . Lần mò xuống cầu thang , tôi lắc đầu lẩm bẩm : ” Thôi chọn lầm nghề rồi . Phải chi mình theo thằng Triết đi Không Quân ( khoá 63 D ) hay theo thằng Hồ vào trường Vỏ Bị Đà Lạt ( khoá 21 ). Cho đáng cái tội yêu bộ đồ đại lễ Hải Quân , oai nghiêm mà thanh thoát . Cho đáng cái tội yêu cái nón trắng Hải Quân với thanh kiếm dài in trên các bích chương dán khắp Sài Gòn “. Rồi cảm giác say sóng đó cũng phai đi sau vài tháng học tập ở quân trường . Nhưng mỗi lần thực tập trên biển là mỗi lần sợ . Tàu chao đi , chao lại là tôi thốc mửa các thức ăn ra , đầu nhức như búa bổ , tìm chổ nằm bẹp dí , Nhìn ra bên ngoài thấy một anh bạn , biệt hiệu Đạo Dừa, ngồi trên ổ neo thản nhiên nhìn sóng gió . Chúng tôi đùa với nhau , nói anh nhờ uống nước dừa mà lì sóng . Cơ thể mỗi người mỗi khác , có người lì sóng , có người say sóng . Phòng tôi có tám người thì hết bốn kiện tướng say sóng , trong đó có tôi . Một tay trong bộ tứ sợ biển , sợ tàu , tìm cách trốn biệt trên bờ , đến năm 75 cũng chưa chịu xuống tàu . Một số rất đông các bạn sĩ quan Hải Quân khác cũng vậy .Vì vậy có danh từ ” Hải Quân Nước Ngọt”. Nói ra để biết phục vụ trên tàu biển cực khổ đến mức nào . Mỗi lần ra khơi , nếu không gặp kẻ thù thì cũng phải chiến đấu với biển cả.



TRUC LOI HAM HAM TU JJ HQ114

Rồi cái gì cũng qua đi , sau gần hai năm rèn luyện ở quân trường , tôi về Sài gòn trình diện Bộ Tư Lịnh Hải Quân ( tháng 7 năm 1966), cầm công điện xuống tàu MSC 114 (Trục lôi hạm Hàm tử 2 ) . Tàu bằng gỗ Teak , sạch sẽ , trang nhã . Gỗ Teak ( giá tỵ ) là loại gỗ quý , không thấm nước . Tàu của Mỹ , nguyên dùng để rà mìn cận duyên , làm bằng gỗ để triệt tiêu từ tính . Tàu giao cho Việt Nam dùng để tuần tiểu cận duyên , Tôi không ngờ đây là loại tàu lắc nhứt trong Hải Quân . Ngồi trong phòng ăn sĩ quan , một chiếc tàu khác đi ngang qua mình cũng biết , vì nó lắc qua , lắc lại nhè nhẹ . Tôi thầm nghĩ trong bụng ;” Mình là vua say sóng mà đi tàu nầy thì chỉ có nước chết . Đúng là thiên bất dung gian “.
Tôi được Hạm Phó phân chia đi ” ca ” chung với Tăng văn Trâm ( khóa 14) . Trâm có cái răng khểnh , cười nói có duyên , tánh tình vui vẽ , nhã nhặn.
Chuyến công tác đầu tiên đi Vùng 2 Duyên Hải đúng ngay gió mùa Đông Bắc . Biển động , sóng bạc đầu phủ trắng xóa khắp nơi . Tàu lắc qua , lắc lại như trứng vịt lăn qua , lăn lại . Tàu chúc mủi xuống rồi ngẩng lên , múc nước biển đầy ắp lên boong tàu . Mọi vật đều phải cột chặt , nếu không sẽ lao xuống biển . Trên đài chỉ huy , tôi cũng xiêu đi , xiêu lại , dỉ nhên là ói mửa tùm lum để biết thế nào là đời thủy thủ .” Hoa biển ” và ” một loài chim biển” đâu không thấy chỉ thấy cái ” sô ” dùng ̣̣để thốc mửa thức ăn trong bụng , cột dưới chân la bàn điện . Thức ăn thốc ra hết , mệt lã người nhưng cũng phải làm việc . Cứ 15 phút định point một lần , để giữ con tàu lúc nào cũng ở trên đường mà hạm trưởng đã kẻ sẳn trên hải đồ .
Người lính thủy , ngoài chiến đấu với kẻ thù còn phải chống chọi với biển cả nữa . Cảm giác say sóng thật khủng khiếp , nó làm cho mình lã đi , gần như kiệt sức , đầu óc quay mòng mòng . Ý chí không còn nữa vì nhức đầu triền miên , giờ nầy sang giờ khác , ngày này sang ngày khác . Có thủy thủ chịu đựng không nổi , đòi nhảy xuống biển . Chúng tôi phải xích anh vào chân giường , đợi tàu cặp bến rồi đưa anh lên bờ . Thú vật cũng say sóng . Trong một chuyến công tác tiếp tế chở bò từ Sông Cầu về Qui Nhơn , vì quốc lộ 1 bị cắt đứt , hàng chục con bò lắc lư trên tàu , miệng mồm đầy nước giải vì say sóng . Người dân đánh cá , hàng ngày , hàng tháng trên ghe nhỏ trên biển cả , bước lên tàu chúng tôi cũng bị say sóng vì biên độ lắc mỗi tàu một khác . Tàu lớn khác tàu nhỏ , sóng ngược khác sóng ngang . Tàu bị sóng ngang khó chịu hơn .

Mãn ” ca ” , xuống phòng ăn , phờ phạc cả người . Nhà bếp phát mỗi người một dĩa cơm , đâu có ăn uống bình thường được , vì thức ăn lẫn chén dĩa sẽ bay xuống sàn tàu ngay . Tôi nhìn dĩa cơm lắc đầu , xin lỗi hạm trưởng , chạy vào phòng vệ sinh , ọc ọc . Trong bụng không còn thức ăn nữa , nước giãi trắng nhờn nhợt bắt đầu tuôn ra . Hết nước giãi , thấy miệng đăng đắng là biết dịch vị của gan hay lá lách , một chất lỏng màu vàng . Và cuối cùng là máu , bao tử cứ chực nhảy ra ngoài vì đâu còn gì để mửa . Máu không phải từ bao tử ra mà do các mạch máu li ti ở cổ bị đứt vì mửa quá nhiều . Nước mắt , nước mủi đầm đìa , tôi loạng choạng bước vào phòng ăn lại . Trâm cầm dĩa cơm , miệng nhai ngồm ngoàm , cười ha hả :” Phước ơi , đời hải hồ vui lắm Phước ơi “. Tôi biết là Trâm chọc quê tôi , ma cũ lòe ma mới . Bụng trống không , tôi mò về giường ngủ , tiếng cười của Trâm vẫn còn vang vọng bên tai tôi .

Làm sao ngủ được , bụng trống cồn cào , đầu nhức như búa bổ , cứ mơ mơ , màng màng thầm trách các ông nhạc sĩ , ở trên bờ hoặc đi biển rất ít , viết các bản nhạc rất nên thơ , rất lãng mạn . Nào là hoa biển , nào là một loài chim biển, tưởng tượng tàu đi trong biển tuyết , có ông thầm ước tàu là một hoàng cung mà em là hoàng hậu . Có ông thấy :” Kìa ngư nhân in hình trên sóng . Bao nàng công chúa dưới thâm cung “. Có ông còn đi xa hơn nữa :” Những chuyện ngàn đêm xứ Ba Tư và chuyện thần tiên bao thế hệ ” . Có người tình cảm nhẹ nhàng , thắm thiết :” Chờ một người đi xa ,áo trắng bay trong nắng tà “, hay ” mắt em màu trùng dương , tóc em như sóng cồn “. Cám ơn các ông nhạc sĩ đã thêu dệt nên đời sống thủy thủ rất lãng mạn , rất đa tình , nhưng người thường không nhìn thấy được đời sống thật sự của các chàng lính biển : phong sương với bão táp , phong trần với gíó mưa , gan lì trong gian khổ , trầm tĩnh để chịu đựng . Tôi chỉ thấy một câu nói về biển là hay nhứt :” Biển là người đàn bà đẹp , nhìn xa thấy quyến rũ , ao ước được gần , sống gần thì chiụ không nổi vì tánh nàng đỏng đảnh quá nhưng khi xa thì lại nhớ “. Nghĩ quanh co , luẩn quẩn , mệt quá rồi cũng thiếp đi .
Làm sao để khỏi say sóng , bạn bè khuyến cáo ăn củ sắn hay khoai mì , khoai lang… Riêng tôi , tôi thấy ăn cháo là thích hợp nhứt . Dể ăn , dể hấp thụ và cũng … dể nôn ra cho nhẹ nhàng . Nôn ra rồi cũng phải cố gắng ăn thêm khi tới bửa ăn , để có cái mà nôn . Tôi cử ăn đồ hộp , nhứt là cá mòi , mửa ra rồi , mùi của nó qua một năm rồi vẫn còn sợ . Quan trọng nhứt là ý chí muốn vượt qua . Tôi không mắc cở với Trâm nhưng với thủy thủ trên tàu mình cần phải cho họ biết là mình có khả năng chống chọi với biển cả . Đi “ca”, lúc nào tôi cũng đứng , ôm cái la bàn điện để làm ” point ” và cũng để …nôn ra cho dễ . Dần dần tôi quen với biên độ lắc của tàu , tôi lấy lại tự tin . Ba tháng sau , tàu gặp một trận bão ở Đà Nẳng . Các lượn sóng cao ngất , ụp vào tàu , phủ tràn lên boong , nước biển văng lên tới tận đài chỉ huy . Tàu nghiêng gần 45 độ , tôi có cảm giác tàu lật úp , nhưng không, tàu lấy lại thăng bằng rồi nghiêng qua bên kia . Các thủy thủ trên đài chỉ huy gục hết . Trâm lộ vẽ mệt , mặt trắng bệt . Trâm nói :” Phước ơi , tao mệt quá , tao xuống nghĩ , mầy coi dùm tao “. Tôi nói :” Ờ , xuống đi “. Trâm lọ mọ xuống cầu thang . Tôi kêu giựt ngược , Trâm quay lại . Tôi nói :” Trâm ơi , đời hải hồ vui lắm Trâm ơi “. Trâm cười , cái miệng méo xẹo.


Đầu năm 1968 , trước trận đánh Mậu Thân vài ngày , tôi được lịnh đổi về Vùng 2 Duyên Hải , qua các đơn vị Duyên Đoàn 25 (Hòn Khói , Nha Trang ), Duyên Đoàn 21 ( Đề Gì , Qui Nhơn ), Bộ Chỉ Huy Vùng 2 Duyên Hải, trại Tây Kết ( Nha Trang) , Phòng Thủ Hải Cảng Qui Nhơn . Giữa năm 1970 , tôi trở về Hạm Đội , được bổ nhiệm làm Hạm Phó HQ 330 ( Pháo Hạm Lôi Công ) . Chiến hạm hoạt động trong sông ngòi nhiều , yểm trợ hải pháo cho bộ binh trong các cuộc hành quân ở Cần Thơ , Châu Đốc , Bến Tre , đặc biệt là ở Năm Căn ( Cà Mau ) và hộ tống thương thuyền lên Nam Vang . Cuối năm 1971 , tôi được lịnh chuyển về làm Hạm Phó HQ11 ( Hộ tống hạm Chí Linh ) . Cấu trúc chiến hạm được xây dựng để chịu đựng sóng gió , vì vậy chiến hạm thường xuyên hoạt động ở Vùng 1 Duyên Hải , địa đầu giới tuyến , nơi mưa bão thường xuyên . Hạm Trưởng là người khá cứng rắn trong luật lệ , tôi là Hạm Phó vẫn phải đi phiên như các sĩ quan khác trên tàu trong khi hạm phó ở các chiến hạm khác được miển . Tôi cố gắng chịu đựng gần một năm rưởi và như con sói biển đang độ trưởng thành nhào lặn , vùng vẩy ngoài biển khơi . Tôi trở thành người lính biển chuyên nghiệp dạn dày với bão táp .Chiến hạm tham dự các cuộc hành quân quan trọng : cùng các chiến hạm Mỹ , yểm trợ hải pháo cho TQLC trấn đóng ở bờ sông Thạch Hản và pháo ngày , pháo đêm , ngày này qua ngày khác , tuần nầy qua tuần khác để yểm trợ cho Tiểu Khu Quảng Ngải giải phóng Sa Huỳnh .
Thàng 2/1973 , tôi thụ huấn khóa Trung Cấp Chuyên Môn Hải Quân ở Trung Tâm Huấn Luyện Sài Gòn . Tháng 5/1973 , tôi được bổ nhiệm xuống HQ617 (Tuần duyên hạm Phú Quý) , mà tôi hân hạnh , lần đầu tiên , được nhận lảnh quyền chỉ huy . Đây là chiến hạm nhỏ nhứt trong các chiến hạm của HQVNCH và người chỉ huy được mang danh xưng Hạm Trường cùng với một huy hiệu riêng biệt trên túi áo . Đây là niềm hảnh diện của một sĩ quan Hải Quân , một số rất ít trong các sĩ quan Hải Quân VNCH.



TUAN DUYEN HAM PGM HQVNCH, KHONG RO TEN VA SO

Trong một chuyến công tác dài ngày ở Phú Quốc , HQ617 được lịnh về Sài Gòn nghỉ bến . Tin tức khí tượng cho biết một trận bão đang ” đánh ” vào Nha Trang . Tôi hỏi ý kiến thủy thủ trên tàu , họ quyết định về ngay vì nhớ nhà . Tàu vừa ra khỏi mủi Cà Mau , mây mù che thấp , mưa nặng hột , gió thổi vù vù đánh thốc vào đài chỉ huy , biển trắng xóa , xung quanh không thấy gì hết . Chiến hạm như người mù đi trong mưa . Tôi cho mở radar , vì bờ biển thấp nên không có echo . Đành phải hải hành bằng fathometer (máy đo độ sâu) . Mưa càng nặng hột , sóng càng lớn . Tàu nhỏ , sóng phủ lên đài chỉ huy . Tàu rung động mạnh , chồm lên các lượn sóng . Sĩ quan đương phiên và thủy thủ trên đài chỉ huy chịu không nổi , nằm gục hết , chỉ còn thủy thủ cầm tay lái và … tôi là còn đứng vửng . Tôi cảm thấy bình tỉnh lạ lùng , có lẽ là vì trọng trách chỉ huy , sinh mạng bao nhiêu người cùng chiến hạm tùy thuộc vào sự lèo lái con tàu . Không vững tay lái , tàu sẽ bị sóng ngang đánh lật úp , hoặc không đi đúng hướng tàu sẽ bị mắc cạn trước các cửa sông .
Nhớ lại những ngày chập chửng vào nghề và bây giờ tôi tự hào là con sói biển đang vẩy vùng ngoài biển khơi . Nhìn ra bên ngoài , mưa trắng xóa , biển đang cuồng nộ , tôi lẩm bẩm :” Biển ơi , mặc dầu nàng đỏng đảnh quá , tôi vẫn yêu nàng “.


Nguồn: http://hoangsaparacels.blogspot.com/2019/04/phuoc-s-cafe-like-page-october-28-2018.html#more-https://www.facebook.com/phuocsongnam2/posts/1927870977284358?__tn__=K-R
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gởi tin nhắn Gởi email
Trình bày bài viết theo thời gian:   
Gởi bài mới   Trả lời chủ đề nầy    Diễn Đàn MẪU TÂM -> TIN TỨC VĂN NGHỆ - THỜI SỰ HẢI NGOẠI Thời gian được tính theo giờ Việt Nam PST (U.S./Canada)
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3 ... 41, 42, 43 ... 45, 46, 47  Trang kế
Trang 42 trong tổng số 47 trang

 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gởi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn
|   Register   |   Tin nhắn riêng   |   Đăng Nhập

Powered by -php_BB- Copyright © mautam.net, 2005. All Rights Reserved