MỘT CƠN GIÓ BỤI - TRẦN TRỌNG KIM
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3, 4, 5  Trang kế
 
Gởi bài mới   Trả lời chủ đề nầy    Diễn Đàn MẪU TÂM -> TIN TỨC VĂN NGHỆ - THỜI SỰ HẢI NGOẠI
Xem chủ đề trước :: Xem chủ đề kế  
Tác giả Thông điệp
phuongtim11



Ngày tham gia: 30 3 2010
Bài gởi: 15290

Bài gởiGởi bởi: Sáu Tháng 5 10, 2019 6:57 pm    Tiêu đề:



MỘT CƠN GIÓ BỤI - Trần trọng Kim - Xuất bản lần đầu tại NxB Vĩnh Sơn, Sài Gòn 1969



CHƯƠNG 7



TÔN CHỈ VÀ SỰ HÀNH ĐỘNG CỦA CỘNG SẢN ĐẢNG



Cộng sản đảng, theo cách tổ chức và hành động của họ,
là một thứ tôn giáo mới, giống như các tôn giáo cũ cốt lấy sự mê tín mà tin, chứ không hoài nghi hay đi trệch ra ngoài.






Song các tôn giáo cũ nói có cõi trời, có thiên đường là nơi cực lạc.



Cộng sản giáo ngày nay thì hoàn toàn duy vật, nghĩa là ngoài vật chất ra, không có sự tin tưởng nào khác nữa, cho thiên đường không phải ở cõi trời mà chính ở cõi trần gian này.


Ai tin theo đạo ấy là phải tin lý thuyết của Các Mác và Lê Nin là tuyệt đối chân chính, đem áp dụng là được sung sướng đủ mọi đường, tức thực hiện được cảnh thiên đường ở cõi đời.





Còn về đường tín ngưỡng, thì đạo Cộng sản là đạo hoàn toàn duy vật , không ai thờ phụng thần thánh nào khác nữa,
nhất thiết phải nghĩ sùng bái những người như Các Mác, Lê Nin, Sử Ta Lin để thay những bậc thần thánh cũ đã bị truất bỏ.








Ðã tin mê cái đạo ấy và đã coi lý thuyết ấy là chân lý tuyệt đối, thì ngoài cái lý thuyết ấy ra, là tà giáo, là tả đạo.
Ai không tin theo và phản đối những người đứng đầu đảng, tức là những bậc giáo chủ, thì là người phản đạo, tất phải trừng trị rất nghiêm.


Vì vậy mới có sự tàn sát những người trong đảng cộng sản theo Trotsky, chủ Cộng sản Ðệ Tứ Quốc tế, là một chi cộng sản phản đối Sử Ta Lin, chủ Cộng sản Ðệ Tam Quốc tế.





http://www.dslamvien.com/2018/01/joseph-stalin-1879-1953-con-nguoi-thep.html



Vậy những tín đồ cộng sản phải là những người cuồng tín và chỉ biết có đời sống vật chất mà thôi, ngoài ra không có gì nữa. Sống có một đời rồi hết, nên ai nấy chỉ lo làm cho mình được mọi điều thắng lợi, sá chi những điều phúc họa thiện ác.


Về đường thực tế, các đặc sắc của cộng sản là không nhận có luân thường đạo lý, không biết có nhân nghĩa đạo đức như người ta vẫn tin tưởng.





Người cộng sản cho cái điều đó là hủ tục của xã hội phong kiến thời xưa, đặt ra để lừa dối dân chúng, nên họ tìm cách xóa bỏ hết. Ai tin chỗ ấy là người sáng suốt, là người giác ngộ, ai không tin là người mờ tối, là người mê muội .


Nữ đại biểu tham dự lễ hội lễ hội " rước của quý " ở Lạng Sơn .






http://docbao.vn/video/nhieu-nguoi-dan-chen-chan-chup-anh-ben-canh-cua-quy-khong-lo-trong-le-hoi-doc-nhat-vo-nhi-o-viet-nam-tintuc521517



Vì có tư tưởng như thế,
cho nên cha con, anh em, bè bạn không có tình nghĩa gì cả, chỉ biết tôn trọng chủ nghĩa của cộng sản và phục tòng những người cầm quyền của đảng, ngoại giả, giết hại lẫn nhau, lừa đảo nhau : hễ ai làm những việc mà lợi cho đảng là người giỏi, người tốt .






Gia đình, xã hội, phong tục, chế độ cũ đều bỏ hết, bỏ đến tận cội rễ, để thành lập xã hội mới.
Cái xã hội mới ấy không tranh đấu cho quốc gia hay cho dân tộc. Dù có nói tranh đấu cho quốc gia hay cho dân tộc nữa, cũng chỉ là cái phương pháp dùng tạm thời trong một cơ hội nào để cho được việc mà thôi, chứ mục đích cốt yếu là tranh đấu cho giai cấp vô sản.







Khi ở đâu sự tranh đấu cho giai cấp ấy được thắng lợi, thì cứ tranh đấu mãi để bảo vệ quyền lợi của giai cấp ấy
và xóa bỏ hết những cương giới nước nọ với nước kia để thực hiện một thế giới đại đồng, đặt dưới quyền chỉ huy của giáo chủ cộng sản ở bên Nga .


Vì sao Đảng ta vẫn lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin làm nền tảng tư tưởng?






http://tapchiqptd.vn/vi/binh-luan-phe-phan/vi-sao-dang-ta-van-lay-chu-nghia-mac-%E2%80%93-lenin-lam-nen-tang-tu-tuong/8615.html


Vì vậy cho nên bất kỳ nước nào đã theo cộng sản là phải phục tùng mệnh lệnh bên Nga, còn nước nào tuy theo chế độ cộng sản, nhưng còn muốn giữ tư tưởng quốc gia như nước Nam Phu Lạp Tư (Yougoslavie) bên Ðông Âu là bị trục xuất ra ngoài hội nghị của các nước cộng sản.








Cái phương thuật của đảng cộng sản bên Nga khôn khéo chỗ ở ấy,
tuy nói là bài trừ đế quốc chủ nghĩa và tiêu diệt những chế đô độc tài áp chế đời xưa , nhưng lại áp dụng chế độ độc tài áp chế hà khốc và tàn ác hơn thời xưa, và gây ra một thứ đế quốc chủ nghĩa theo một danh hiệu khác, để tự mình thống trị hết thiên hạ.


Thành ra các nước đã theo cộng sản đều phải là những nước phụ thuộc nước Nga, cũng như bên Tàu ngày xưa các nước chư hầu phải phục tùng mệnh lệnh thiên tử.
Thì ra trong thế gian này chẳng có gì là mới lạ. So chế độ cộng sản ở nước Nga ngày nay có khác gì chế độ nhà Tần thời chiến quốc bên Tàu Question


Có khác là ở những phương tiện theo khoa học và những mánh khóe hiện thời mà thôi, còn thì cũng tàn bạo gian trá như thế, và cũng dùng những quyền mưu quỉ quyệt để thống trị hết cả các nước .
Còn tiếp,


Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gởi tin nhắn
phuongtim11



Ngày tham gia: 30 3 2010
Bài gởi: 15290

Bài gởiGởi bởi: Sáu Tháng 5 17, 2019 2:03 pm    Tiêu đề:



Ðảng cộng sản đã có cái tổ chức rất đúng khoa học, đảng viên lại giữ kỷ luật rất nghiêm, rất chịu khó làm việc và có tín lực rất mạnh.



Ai theo đảng là đắm đuối vào chủ nghĩa của đảng, có lâm nguy nan gì thì cho là một vinh hạnh được tuẫn tử vì đảng.



https://www.youtube.com/watch?v=78ZwWyY8kiA


https://www.quyenduocbiet.com/a214/nguyen-van-troi-san-pham-cua-doi-tra


Về sự hành động thì đảng cộng sản chuyên dùng những thủ đoạn quỉ quyệt, nên tuy có thắng lợi mà những người trí thức ít người theo.


Cũng vì vậy mà họ bài trừ trí thức và chỉ ưa dùng đàn bà, trẻ con và những người lao động là hạng người dễ khuyến dụ, dễ lừa dối.







Người cộng sản, khi đã hành động, hay dùng đến chữ giải phóng. Theo việc làm của họ, tôi vẫn chưa hiểu rõ nghĩa hai chữ ấy .



Có phải trước kia có cái cũi giam người, bây giờ họ đem cái cũi kiểu mới đến bên cạnh rồi bảo người ta chạy sang cái cũi mới ấy, thế gọi là giải phóng không? Nếu cái nghĩa giải phóng là thế, thì cũi cũ hay cũi mới cũng vẫn là cái cũi, chứ có hơn gì ?







Cứ như ý tôi,
thì giải phóng phải theo đúng cái lẽ công bằng, làm cho người ta được ung dung thư thái, được hành động trong một cái khuôn khổ rộng rãi, ai nấy biết trọng quyền lợi của mọi người theo pháp luật đã định , không bị đàn áp và lừa dối, không bị bắt bớ và giết hại một cách ám muội, oan ức.


Ðàng này tôi thấy chế độ các nước cộng sản giống nhau như in cái chế độ chuyên chế thuở xưa.



Người nào nói xấu hay công kích những người cầm quyền của đảng là phải tội bị đày, bị giết. Ai không sốt sắng theo mình thì bị tình nghi, phải chịu mọi điều phiền khổ.







Nhân dân trong nước vẫn bị đàn áp lầm than khổ sở,
riêng có một số ít người có địa vị to lớn là được sung sướng .
Như thế thì giải phóng ở đâu Question






Giải phóng gì mà cả chính thể một nước phải nương cậy ở những đội trinh thám để đi rình mò và tố cáo hết thảy mọi người.


Hễ ai vô ý nói lỡ một câu là bị tình nghi có khi bị bắt, bị đày v...v... thành ra nhân dân trong xã hội ấy lúc nào cũng nơm nớp lo sợ, không biết ai là bạn là thù
mất hẳn sinh thú ở đời, thật trái với lời nói thiên đường ở cõi trần.





Trong những lời tuyên truyền của Việt Minh, thấy luôn luôn nói nào là hạnh phúc, nào là tự do, bình đẳng,
mà sự thật thì trái ngược tất cả.

Những lối họ dùng là nói dối, đánh lừa cướp bóc, giết hại tàn phá, không kiêng dè gì cả, miễn làm cho người ta mắc lừa hay sợ mà theo mình là được.



https://www.youtube.com/watch?v=7UMZrkgMG0I&t=70s



Xem như lúc đầu Việt Minh tuyên truyền rầm rĩ lên rằng :


" Nước Việt Nam đã được các nước Ðồng Minh cho hoàn toàn độc lập, và dân được tha hết các thứ thuế ".


Thôi thì chỗ dân gian nghe nói thế chạy ùa ùa theo.
Sau chẳng thấy độc lập đâu cả và dân lại phải đóng góp nặng hơn trước. Khi Việt Minh đã nắm quyền binh rồi, lại định các ngạch thuế, có người hỏi họ :


- " Sao trước kia các ông bảo tha hết các thứ thuế rồi kia mà ?"



Họ trả lời :



" Ấy trước nói tha thuế, nhưng bây giờ chính phủ cần có thuế để làm mọi việc".
Nói thế thì uy tín của chính phủ để đâu Question






Cái thủ đoạn của Việt Minh là
dùng mọi cách bạo ngược, tàn nhẫn, giả dối, lừa đảo để cho được việc trong một lúc.


Ngay như họ đối với Việt Nam Quốc dân đảng nay nói là đoàn kết, mai nói đoàn kết,
nhưng họ vẫn đánh úp, vẫn bao vây cho tuyệt lương thực.

Khi họ đánh được thì giết phá,
đánh không được thì lại đoàn kết, rồi cách ngày lại đánh phá.


Dân tình thấy thế thật là ngao ngán chán nản, nhưng chỉ ngấm ngầm trong bụng mà không dám nói ra. Nên dân gian thường có câu



- " Nói như Vẹm ".
Vẹm là do hai chữ Việt Minh viết tắt V M, đọc nhanh mà thành ra.






Chính phủ Việt Minh đối với ông Bảo Ðại rất là đơn bạc, nhưng bề ngoài vẫn làm ra bộ thân thiện.
Họ để ông ở nhà của viên đốc lý Hà Nội ở trước, song đồ đạc không có; chỗ nằm ngủ, đến cái mùng ông cũng phải đi mượn. Cơm nước thì họ cử một người hào phú trù liệu cho ông.


Song mỗi khi ông đến chỗ dân chúng, nhân dân rất hoan nghinh và các phái viên ngoại quốc như Tàu và Mỹ rất kính trọng và thường chú ý đến ông.



Cựu hoàng Bảo Đại và Nam Phương Hoàng hậu cùng các chính khách tại Hội nghị Hương Cảng 1947






https://ordi.vn/hinh-anh-bao-dai-va-cac-chinh-khach-tai-hoi-nghi-huong-cang-1947.html


Việt Minh thấy dân chúng kính mến ông Bảo Ðại và người ngoại quốc để ý đến ông,
họ bèn đem ông vào ở Sầm Sơn trong Thanh Hóa, rồi sau lại đem ông lên Phủ Thọ Xuân, thành ra ông mắc phải bệnh nóng lạnh ngã nước, sang Hương Cảng chữa mãi không khỏi.



Sau cuộc tổng tuyển cử vào quảng tháng giêng năm 1946, Việt Minh mới để ông trở về Hà Nội.
Khi Việt Minh lập xong chính phủ do quốc hội chuẩn y rồi, họ thấy dân chúng và người ngoại quốc có nhiều cảm tình đối với ông Bảo Ðại và lại biết quân Pháp sắp vào Bắc Trung Bộ, họ sợ để ông ở Hà Nội có xảy ra sự biến gì chăng, mới bày ra cách lập một phái đoàn sang Trùng Khánh tỏ tình thân thiện với nước Tàu.







Cứ như ý riêng của tôi,
thì việc ấy ông Hồ Chí Minh có thể mưu với những tướng Tàu là bọn Lư Hán và Tiêu Văn, nói rằng chủ tịch Tưởng Giới Thạch có điện mời ông Bảo Ðại sang Trung Hoa chơi. Vì lúc ấy bọn tướng Tàu đã lấy tiền của ông Hồ, nên bảo gì chẳng được.


Hãy xem như sau khi ông Hồ đã ký hiệp ước với Pháp, ông phó chủ tịch Nguyễn Hải Thần bỏ sang Tàu, tướng Tiêu Văn cứ chạy theo cụ Nguyễn để cố mời cụ trở về Hà Nội làm việc, thì biết dù sao đi nữa, việc lập một phái đoàn để đưa ông Bảo Ðại sang Tàu có tính cách vội vàng và bí mật lắm.


Phái đoàn ấy để ông Bảo Ðại đứng đầu, có mấy người Việt Minh và mấy người Quốc dân đảng đi theo .



Hôm tôi đến thăm ông lần đầu, ông nói qua việc ấy tôi nghe. Tôi cũng khuyên ông đi ra ngoài, vì ở trong nước có nhiều sự nguy hiểm cho ông. Song tôi tưởng còn lâu mới đi, nào ngờ cách bốn hôm sau tôi đến thì ông đã đi hôm trước rồi.



Sang đến Trùng Khánh, chủ tịch Tưởng Giới Thạch có tiếp ông tử tế. Song mấy người Việt Minh và Quốc dân đảng bỏ ông ở bên ấy không để tiền nong gì cho ông, ông phải vay mà tiêu.
]Còn hoàng hậu và mấy người con, ông Hồ có hứa rồi sẽ cho sang sau, nhưng rồi cũng không cho sang.


Lúc ấy chính phủ Trung Hoa đang dọn về Nam Kinh, có mời ông về đấy, nhưng ông từ chối rồi về ở Hương Cảng.Sau chính phủ Việt Minh gửi thư sang bảo ông cứ ở bên Tàu đừng về nữa.






Xem thế cũng rõ cái ý chính phủ Việt Minh là muốn đưa ông Bảo Ðại ra ngoài để họ dễ làm việc và khỏi lo ngại về việc có thể xảy ra được. Ðó là mưu sự của người, nhưng biết đâu lại không phải là ý trời xui khiến ra như thế, để ông ra khỏi chỗ nguy hiểm ở trong nước.
Còn tiếp



Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gởi tin nhắn
phuongtim11



Ngày tham gia: 30 3 2010
Bài gởi: 15290

Bài gởiGởi bởi: Tư 6 12, 2019 12:07 pm    Tiêu đề:



MỘT CƠN GIÓ BỤI - Trần trọng Kim - Xuất bản lần đầu tại NxB Vĩnh Sơn, Sài Gòn 1969



CHƯƠNG 8



SỰ GIAO THIỆP CỦA CHÍNH PHỦ VIỆT NAM VỚI NƯỚC PHÁP



Việc khó khăn lúc bấy giờ là việc đối phó với nước Pháp, mà tôi cho là cách ngoại giao của chính phủ có nhiều chỗ hớ hênh.



Lúc đầu mới có lâm thời chính phủ, có người phái viên Mỹ đến bảo ông Bảo Ðại rằng :



" Chính phủ Việt Nam có cần tiền để kiến thiết thì người Mỹ sẵn sàng cho vay".



Ông liền đến bảo ông bộ trưởng tài chính thì ông ấy chối phắt đi, nói rằng :



"Chính phủ Việt Nam không cần tiền người Mỹ".







Trước khi nước Pháp đem quân vào bắc bộ, chính phủ Pháp mở cuộc điều đình với chính phủ Trung Hoa ở Trùng Khánh để nước Tàu rút hết quân về và để nước Pháp thu lại chính quyền.


Lúc ấy người ta nói rằng chính phủ Trung Hoa có điện sang cho chính phủ Việt Minh cho đại biểu sang dự thính trong khi đàm phán. Chính phủ Việt Minh làm thinh không trả lời .



Khi chính phủ Pháp ký kết hiệp ước với chính phủ Trung Hoa rồi, mới trù tính đem quân ra bắc bộ, Cao cấp ủy viên nước Pháp lúc bấy giờ là hải quân trung tướng D'Argenlieu có ra vịnh Hạ Long mời ông Hồ Chí Minh xuống nói chuyện .


Ông đi với ông Nguyễn Tường Tam, bộ trưởng bộ ngoại giao và mấy người khác nữa.



Xuống đến tàu, chỉ có mình ông Hồ được mời vào buồng nói chuyện, còn mọi người đứng ở ngoài.



Lễ ký kết Hiệp định sơ bộ 6/3/1946 tại 38 Lý Thái Tổ, Hà Nội.

Từ trái qua phải: Hồ Chí Minh, Hoàng Minh Giám, Sainteny, Pignon, Caput.
Ảnh: Nguyễn Bá Khoản.







Xong việc nói chuyện với chiếc tàu chiến rồi, cao cấp ủy viên ông Sainteny thay mặt để lên Hà Nội cùng với ông Hồ Chí Minh và Vũ Hồng Khanh,
đại biểu chính phủ Việt Nam ký tờ hòa ước ngày mùng 6 tháng ba năm 1946.


Bản hiệp ước sơ bộ có ba khoản:




Khoản thứ nhất :


" Chính phủ nước Pháp nhận nước Việt Nam Cộng Hòa là một nước tự do có chính phủ có quốc hội, có quân đội và có tài chính, dự vào liên bang Ðông Dương và Liên Hiệp Pháp .


Về việc hợp nhất ba kỳ thì chính phủ Pháp cam đoan thừa nhận sự quyết định của dân chúng sau cuộc trưng cầu ý kiến".


Khoản thứ hai :


"Chính phủ Việt Nam
phải lấy tình thân thiện mà đón tiếp quân đội Pháp chiếu theo những thỏa hiệp quốc tế, vào thay những quân Pháp đã đóng trong nước. Có bản phụ ước đính theo hiệp ước này định rõ cái thể cách về việc luân chuyển quân đội ấy".






Khoản thứ ba :


"Sau khi hai bên đã ký tên rồi,
thì phải thi hành ngay những điều đã định trong tờ hiệp ước này và mỗi bên phải tìm các phương tiện để đình hết thảy cuộc xung đột ở các nơi, quân đội hai bên ở đâu cứ đóng ở đấy , và phải gây ra một không khí hòa hảo để mở cuộc thương thuyết theo tình thân thiện và chân thật. Cuộc thương thuyết ấy sẽ bàn về :


Việc ngoại giao của nước Việt Nam với các nước ngoại quốc


Quyền pháp tương lai của Ðông Dương



Những quyền lợi kinh tế và văn hóa của Pháp ở Việt Nam . Về mặt quân sự thì có bản phụ ước sau này, cùng ký một ngày với bản hiệp ước sơ bộ vừa nói trên:


Quân đội thay thế quân đội Trung Hoa (tức là từ vĩ tuyến 16 trở ra) gồm có :



- 10.000 quân Việt Nam có sĩ quan Việt Nam chỉ huy,
để tùy tư lệnh Pháp sử dụng , nhưng vẫn thuộc quyền chính phủ Việt Nam.


- 15.000 quân Pháp, kể cả quân Pháp hiện đang đóng trong xứ từ phía bắc vĩ tuyến 16 trở ra.
Quân đội ấy quê quán ở nước Pháp, trừ quân sang canh giữ tù binh Nhật Bản không kể.


Hết thảy những quân đội ấy thuộc dưới quyền chỉ huy của Pháp,
có đại biểu Việt Nam tham dự, sự đóng trại và cách dùng những quân đội ấy sẽ định sau, khi quân Pháp đã đổ bộ, ở hội đồng của Tham mưu bộ Pháp và Việt .



Ngày 6-3-1946, Hồ Chí Minh và các thành viên Việt Pháp ký Hiệp định Sơ bộ






Các ủy ban Pháp và Việt sẽ đặt trong các giai cấp để giữ cái tinh thần về sự hợp tác thân thiện trong sự liên lạc giữa quân Pháp và Việt .



Những toán quân đội của Pháp đi lại luân chuyển chia làm ba hạng :



Những toán quân canh giữ tù binh Nhật Bản.


Những toán quân ấy hạn không quá sáu tháng sẽ rút về, khi tù binh đã đem đi hết.



Những toán quân có phận sự phải hợp tác với quân Việt Nam để giữ trật tự và an ninh trong lãnh thổ Việt Nam .



Hạng quân này cứ mỗi năm triệt hồi 1% (một phần trăm) và thay bằng quân Việt Nam , hạn trong năm năm không còn quân Pháp thuộc hạng này đóng tại Việt Nam nữa.



Những toán quân phải giữ những nơi căn cứ ở Việt Nam thì đóng ở đấy, chỗ đồn trại phải định giới hạn rõ ràng.



Chính phủ Pháp cam đoan không dùng lính Nhật Bản về việc binh bị.


Ký tên :
Sainteny-Salan, Võ Nguyên Giáp .







Ðó là những Hiệp ước ký ngày mùng 6 tháng ba năm 1946 của chính phủ Việt Minh do ông Hồ Chí Minh làm chủ tịch đã thỏa thuận với Pháp.
Lúc bấy giờ người Pháp gọi nước Việt Nam là kể từ trung bộ trở ra mà thôi, còn đất Nam Bộ thì phải đợi khi nào trưng cầu dân ý rồi mới định được.


Hồ Chí Minh và Bộ trưởng Hải ngoại Pháp Marius Moutet ký bản tạm ước Việt - Pháp ngày 14/9/1946. Ảnh tư liệu





Xem những bản Hiệp ước ,
thì chẳng thấy đâu là thống nhất và đâu là hoàn toàn độc lập như Việt Minh đã tuyên truyền rầm rĩ từ lúc đầu.







TẠI SAO CHÍNH PHỦ VIỆT NAM LẠI CHỊU KÝ NHỮNG TỜ HIỆP ƯỚC ẤY Question


Ðó là câu hỏi ở đầu lưỡi mọi người.

Việt Minh tự biết chưa có đủ thế lực chống với Pháp, và quân Tàu đến đóng từ vĩ tuyến 16 trở ra ,
ở trong lại có Quốc dân đảng nhờ quân Tàu binh vực, hoạt động rất mạnh.


Họ nghĩ hãy ký với nước Pháp để tạm yên, rồi chờ quân Tàu rút xong,
sẽ trừ hết Quốc dân đảng, thống nhất hết thảy các lực lượng, lúc ấy sẽ xoay sang với quân Pháp.


Vả lại lúc ấy Việt Minh còn có cái hy vọng là đảng cộng sản Pháp sẽ thắng lợi trong cuộc tuyển cử bên Pháp. Hễ bên Pháp mà đảng cộng sản lên cầm quyền, thì công việc bên Việt Nam sẽ giải quyết dễ dàng mau chóng hơn.



Sau Hiệp ước sơ bộ ngày mùng 6 tháng ba, khi quân Pháp đã vào bắc bộ và trung bộ rồi , còn có hội đồng bộ tham mưu ngày mùng 3 tháng tư năm 1946, định các chi tiết về những điều đã nói ở bản phụ ước.


Bên người Pháp thì cái kế hoạch là muốn từ từ, trước hết cắt đứt Nam Bộ ra ngoài nước Việt Nam.



Vậy nên vừa ký bản Hiệp ước sơ bộ ngày mùng 6 tháng 3 thì đến ngày 26 tháng ba đã họp tư vấn hội nghị có độ mười người, gồm cả Pháp và Việt để lập ra Nam Kỳ Cộng Hòa Quốc và cử đại tá Nguyễn Văn Xuân làm phó chủ tịch.



Bác sĩ Nguyễn Văn Thinh làm được mấy tháng, thấy người Pháp không cho mình được quyền tự chủ và lại bị người trong nước thóa mạ, mới thất vọng tự tử.



Người Pháp lại đem y sĩ Lê Văn Hoạch lên thay, đại tá Nguyễn Văn Xuân bỏ sang Pháp, rồi được thăng chức lục quân thiếu tướng.


Hồ Chí Minh và Marius Moutet bắt tay sau khi ký Tạm ước Việt - Pháp







Hiệp ước mùng 6 tháng ba
chỉ là một Hiệp ước sơ bộ mà thôi, tất phải có một hội nghị chính thức giữa nước Pháp và Việt để định rõ cái địa vị của hai nước liên lạc với nhau.


Nhưng trước khi đi đến hội nghị chính thức ấy, người Pháp mở một hội nghị dự bị ở Ðà Lạt để đại biểu hai bên gặp nhau và biết quan điểm của nhau. Vậy khởi đầu ngày 17 tháng tư đến ngày 12 tháng năm năm 1946, đại biểu hai bên họp ở Ðà Lạt. Song vì quan điểm mỗi bên một khác thành ra hội nghị đó không có kết quả gì cả.


Tuy hội nghị Ðà Lạt không có kết quả nhưng cũng làm người ta biết rõ thái độ và quan điểm của hai bên. Hai bên định tháng bảy năm ấy sẽ họp hội nghị chính thức ở Fontaineblou bên Pháp để giải quyết cho xong vấn đề Pháp Việt. Ðó là cái tình thế gay go giữa nước Pháp và Việt Nam, sau sáu tháng chính phủ Việt Minh lên cầm quyền.


Dân tình trong nước đối với chính phủ Việt Minh sau khi ký bản hiệp ước ngày mùng 6 tháng ba và sự thất bại ở Ðà Lạt, ai nấy đều chán nản và lại thấy việc chính trị rối beng, không có trật tự gì cả, thành ra người ta lại tức giận thêm.







Lúc ấy cái nếp cai trị cũ đã bỏ hết, ở các nơi đều có Nhân dân Ủy ban làm việc.



Những ủy viên trong những ủy ban ấy phần nhiều là những người vô học, thường là thợ thuyền hay phu phen, được khi có quyền trong tay làm điều tàn ngược, bắt người lấy của,
giết hại những người không theo đảng họ, hay vì tư thù hờn oán mà chém giết một cách tàn nhẫn.






Ai có dị nghị điều gì, thì cho là
phản động, là Việt gian, bị bắt bớ, đánh đập tàn nhẫn, đâu đâu cũng náo động cả lên .






Ai cũng tự hỏi rằng:



Nếu như thế này mãi, thì nhân dân sống làm sao Question

Vậy nên mọi người đều mong có sự thay đổi để những người đứng đắn ra làm việc cho dân đỡ khổ.
Song trong cái hoàn cảnh ấy người đứng đắn ra làm việc sao được.






Ông Huỳnh Thúc Kháng làm Bộ trưởng bộ nội vụ cũng phải khoanh tay ngồi nhìn,


Ông Bùi Bằng Ðoàn làm
thanh tra chính trị,sang Gia Lâm khám xét việc gì bị ủy ban nhân dân bắt, chính phủ phải phái binh lính sang mới được tha về.
Thành thử lúc ấy ngoài những người cộng sản ra, không ai làm gì được.


Một đàng dân ta oán Việt Minh, một đàng sau Hiệp ước sơ bộ ký với chính phủ Việt Minh, quân Pháp vào đóng ở Hải Phòng, Hà Nội, Nam Ðịnh v...v...
cái thái độ của quân Pháp lúc ấy, nhất là ở Hà Nội và Hải Phòng tung hoành bạo ngược, rõ rệt là có ý khiêu khích, làm cho ai cũng uất ức tức giận .







Ý người Pháp là muốn dần dần dùng vũ lực đàn áp Việt Minh để lập lại chủ nghĩa thuộc địa như trước. Việt Minh cũng biết rõ như thế, nhưng chỉ có hai con đường:

Một là chịu lép một bề,
để cho người Pháp điều khiển, như thế lại trái với chủ nghĩa của họ mà dân chúng sẽ không ai theo nữa, tất là rồi cũng đến chỗ tiêu diệt.


Hai là tìm cách phòng bị để chống với Pháp,
trước là hợp với cái lòng ái quốc của dân chúng, dù cái mục đích cốt yếu của họ không phải là vì quốc gia, nhưng họ phải lợi dụng hai chữ quốc gia để chống với quân địch mà đứng vào cái địa vị tranh đấu cho nền độc lập nước nhà .






Lẽ tất nhiên là họ phải đi vào con đường thứ hai . Bởi vậy, việc điều đình cứ điều đình, việc chiến đấu cứ tiến hành dự bị.

Còn tiếp ,


Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gởi tin nhắn
phuongtim11



Ngày tham gia: 30 3 2010
Bài gởi: 15290

Bài gởiGởi bởi: Năm 6 13, 2019 4:00 pm    Tiêu đề:



MỘT CƠN GIÓ BỤI - Trần trọng Kim - Xuất bản lần đầu tại NxB Vĩnh Sơn, Sài Gòn 1969



CHƯƠNG 9



ĐI SANG TÀU



Hà Nội, tôi trông thấy cách hành động của người Pháp và của Việt Minh,
biết là thế nào cũng có xung đột lớn. Tôi nghĩ :



Ở đây rồi trong cuộc binh lửa, ngọc đá đều tan thì ở sao được. Một bên Việt Minh, một bên quân Pháp, trong cuộc chiến tranh, ai biết là ai. Mà đi thì đi đâu Question Bấy giờ tôi có biết mấy người Quốc dân đảng, họ nói rằng :



" Chúng tôi có đủ các cơ quan làm việc bên Tàu, nay nhân có ông Bảo Ðại ở bên ấy và nghe nói ông đang vận động với các nước đồng minh để củng cố địa vị nước Việt Nam.

Cụ nên sang bên ấy rồi cùng ông Bảo Ðại làm việc, may ra có ích lợi cho nước. Nếu cụ bằng lòng đi, thì chúng tôi có thể thu xếp mọi việc cho cụ đi ".



Tôi nói:



" Bây giờ tôi già rồi và lại có bệnh tật chẳng làm gì được nữa, nhưng tôi cũng muốn đi, để tránh cái họa binh lửa sắp đến đây. Vậy để tôi nghĩ xem thế nào, rồi tôi trả lời ".



Tôi thấy những người bên Tàu về nói lại là họ có các cơ quan tổ chức chu đáo ở bên ấy và họ muốn giúp đỡ tôi, nên tôi đã có cái hứng thú muốn đi .


Tôi đem chuyện ấy nói với mấy người bạn thân, người thì bảo nên đi, người lại bảo đi chẳng ích gì, dù sao Việt Minh cũng phải nhượng bộ, chắc không đến nỗi có chiến tranh.




Song tôi thấy cái không khí không sao tránh khỏi sự chiến tranh được, và muốn ra ngoài xem những công việc của các nhà cách mạng xưa nay tuyên truyền rầm rĩ, nếu có thật mà làm được việc gì càng hay, nếu không cũng là một dịp cho ta ra khỏi cái hoàn cảnh nguy hiểm này.







Tôi bèn quyết định đi và nhờ mấy người Quốc dân đảng thu xếp mọi việc cho tôi đi.


Trước tôi còn muốn đem mấy người bạn thân cùng đi với tôi. Việc đi như thế là phải giữ kín, nhưng không ngờ mấy người lo liệu việc ấy làm lộ chuyện, thành ra không đi được. Vì vậy mà Việt Minh để ý đến tôi và cho người rình mò ở gần nhà tôi.



Lúc ấy ông Hồ Chí Minh sửa soạn sang Pháp và cử một phái đoàn có ông Nguyễn Tường Tam, bộ trưởng bộ ngoại giao, cũng sang Pháp dự hội nghị Fontainebleau để giải quyết vấn đề Việt Nam.


Ðến ngày cuối cùng, ông Nguyễn Tường Tam cáo bệnh ở lại và xin từ chức.



Chính phủ Việt Minh cử Phạm Văn Ðồng lên thay làm chủ tịch phái đoàn. Phái đoàn đi thì đi, nhưng không ai chắc đã thành công được.






Bấy giờ là cuối tháng 5 năm 1946, quân Tàu đã rút về gần hết, những người Quốc dân đảng đến giục tôi hãy đi trước một mình đã, rồi những người khác sẽ đi sau.



Họ cử một người y sĩ là ông Nguyễn Văn Mão đi với tôi, lấy vé tàu bay sang Côn Minh rồi lên Trùng Khánh. Mọi việc thu xếp đâu đấy, đến ngày mai đi, tối hôm trước tôi tới nhà một người Quốc dân đảng, sáng hôm sau đi lên phi trường bay Gia Lâm, thì được tin phi công bên Tàu đình công, tàu bay không có, chờ chuyến tàu bay sau. Tôi trở về nhà không tiện, lại phải đến ở nhà một người Quốc dân đảng khác.



Chờ đến sáu bảy ngày mà tàu bay vẫn không có. Mấy người Quốc dân đảng đến bảo tôi rằng :



" Cụ đã định đi mà chùng chình mãi không nên. Hay là chúng tôi lấy xe hơi đưa cụ đi đường bộ lên Lạng Sơn, rồi từ đó đi thẳng sang Nam Ninh.



Bên ấy có ông Nguyễn Hải Thần, sẽ trù liệu mọi việc cho cụ đi Nam Kinh gặp ông Bảo Ðại. ( Lúc ấy ông Nguyễn Hải Thần đã bỏ chính phủ Việt Minh chạy sang ở bên Tàu rồi .)


Bấy giờ tôi rất phân vân,
đi cũng dở, về cũng dở, sau thấy mấy người nói mãi, tôi mới thuận. Họ liền đi điều đình với quân đội Tàu, cho một người trung hiệu Tàu làm thông ngôn đưa chúng tôi đi. Lúc đi các bạn đưa cho tôi một vạn bạc Ðông Dương để làm lộ phí, bảo rằng :


" Sang bên Tàu đã có trụ sở cung cấp đủ cả, không phải lo ngại gì ".


Ông Mão cũng đem đi độ bốn năm ngàn. Tất cả đổi ra được hơn tám vạn quan kim tiền Tàu.






Chiều hôm mùng 2 tháng sáu năm 1946, bốn người chúng tôi lên chiếc xe hơi của Quốc dân đảng đi đến phủ Lạng Thượng thì xe hỏng, phải cho xe trở lại.


Người sĩ quan Tàu gặp đoàn sáu chiếc xe vận tải của quân đội Tàu, mới điều đình với quản đoàn xe ấy, cho tôi đi nhờ lên Lạng Sơn, nhưng phải đợi chữa xong xe mới lên được. Chờ ở phủ Lạng Thượng mất ba ngày ở khách sạn, đến ngày mùng 6 tháng sáu mới đi Lạng Sơn.


Thành Lạng Sơn bấy giờ thuộc quyền đội quân phục quốc đóng giữ mà chung quanh thì bị quân Việt Minh bao vây.


Ðội quân phục quốc do một người thổ hào tên là Nông Quốc Long cai quản. Cả đội quân ấy độ vài trăm người có đủ súng ống, nhưng không hòa hợp với các đội quân khác của Quốc dân đảng.


Chúng tôi lên đến Lạng Sơn,
nghe nói ông Nguyễn Hải Thần ở Nam Kinh đã trở về đấy. Tôi tìm cách gặp ông ấy. Từ trước tôi chưa gặp ông ấy bao giờ, chỉ biết ông và những người Quốc dân đảng khác theo quân Tàu về nước, tuyên truyền huyên thuyên mà không thấy làm được việc gì ra trò.


Những người trong đám Phục quốc quân ở Lạng Sơn vì không có lương thực cũng tìm cách lấy tiền chi dụng cho qua ngày.


Tôi biết những người ấy không làm nỗi việc gì, nhưng có những người đi theo ông Nguyễn Hải Thần ở bên Tàu đã lâu quen biết nhiều người Tàu, tôi muốn gặp ông và rủ ông đi lên Nam Kinh để gặp ông Bảo Ðại, vì lúc ấy mọi người đều yên chí ông Bảo Ðại đã ở Nam Kinh rồi. Trước là để tụ họp hết các đảng phái làm một cho có tính cách duy nhất trong việc hành động, sau là để khi làm việc gì, có tổ chức chắc chắn, không đến nỗi rời rạc như mọi người đã trông thấy.



Tôi gặp ông Nguyễn Hải Thần ở Lạng Sơn cùng với Vũ Kim Thành và mấy người khác nữa. Ngồi nói chuyện qua loa rồi hẹn đến hôm sau sẽ nói chuyện dài. Sáng hôm sau ông Nguyễn Hải Thần đến thăm tôi ở khách sạn. Mới nói được vài câu, thì tướng Tiêu Văn cho người đến mời ông đi. Trước khi đi, ông hẹn sẽ cho xe đến đón chúng tôi đến Ðồng Ðăng để nói chuyện cho tiện.






Chúng tôi chờ đến 2 giờ chiều không thấy xe đến, chúng tôi thuê xe hàng mất 1.500 bạc quan kim lên Ðồng Ðăng, nghĩa là mất hơn 300 bạc Ðông Dương mà chỉ có 15 cây số.


Ðến Ðồng Ðăng, nói chuyện với ông Nguyễn Hải Thần thì thấy ông là một người lão thực, mà tinh thần kém cỏi lắm rồi. Ông có tiếng là người làm cách mệnh đã lâu năm, mà công việc làm cũng chẳng thấy gì xuất sắc lắm. Tôi ngỏ lời rủ ông đi Nam Kinh. Ông ưng thuận nhưng lại nói rằng :


" Mấy hôm trước có người Quốc dân đảng lên bàn với tôi về việc ấy. Tôi bảo phải trù liệu cho tôi 120.000 đồng để tôi lập một đoàn đại biểu 9 người cùng đi với tôi. Vậy ta hãy chờ xem họ trả lời thế nào, rồi cùng đi một thể.


Ông lại nói :


" Vả tôi còn phải điện lên Nam Kinh để lấy xe hơi về đón chúng ta lên ".



Chúng tôi ở lại Ðồng Ðăng chờ đến chín, mười ngày, không thấy tin Hà Nội lên mà cũng không thấy xe ở Nam Kinh xuống đón. Sau cùng ông Nguyễn Hải Thần phải đi điều đình với người sĩ quan coi việc vận tải của quân đội Tàu để đi nhờ xe của họ.


Sáng sớm ngày 17 tháng sáu mới lên đường. Người sĩ quan Tàu để ông Nguyễn, tô, và cháu ông Nguyễn cùng ngồi với y trên cái xe jeep. Còn bọn ông Vũ Kim Thành, Hương Ký, Nghiêm Xuân Việt đi mấy cái xe cam nhong đi trước; để ông Mão , người sĩ quan và người thông ngôn đi với chúng tôi ở lại chờ một xe cam nhong sắp đến.






Chúng tôi đi từ Ðồng Ðăng đến Nam Kinh chỉ độ hơn 200 cây số mà phải mất hai ngày, tức là đến chiều tối ngày 18 mới tới nơi.


Ðến Nam Kinh tôi vào ở khách sạn, chờ ông Mão mất hai ngày mới thấy ông và hai người kia đến. Hỏi ra mới biết ra mới biết rằng cả ngày 17, chúng tôi đi rồi không thấy xe cam nhong đã hẹn đến. Chờ hôm sau cũng không thấy, bọn ông Mão phải thuê xe khác mà đi. Dọc đường ông Mão gặp mấy cái nạn rất nguy hiểm, may là thoát khỏi.


Trong khi chờ đợi mấy người kia,
tôi có dịp biết cả ông Nguyễn Thiện Thuật ở gần Nam Kinh.


Ông trước làm Tán tương quân vụ cuối đời Tự Ðức, rồi sau đứng chỉ huy quân Cần Vương chống với quân Pháp ở Bãi Sậy.



Bấy giờ tôi bàn với ông Nguyễn Hải Thần xem đi Nam Kinh thì đi đường nào tiện hơn.


Ði lối Côn Minh rất khó và có nhiều trộm cướp, lối Liễu Châu rồi cũng không có tàu bay. Nếu không có tàu bay, thì ra Hương Cảng đi tàu thủy lên Thượng Hải. Trước sau ông Nguyễn Hải Thần vẫn nói là cùng đi với chúng tôi.


Mấy hôm tôi ở Ðồng Ðăng và ở Nam Kinh,
tôi thường nói chuyện với ông Vũ Kim Thành, thấy ông là người chơn thực và lại nói thạo tiếng Quảng Ðông.


Tôi bàn riêng với ông đi lên Nam Kinh với tôi, vì đến Nam Kinh người sĩ quan Tàu và người thông ngôn ở lại. Vũ Kim Thành bằng lòng. Chúng tôi nhất định đến ngày 24 tháng sáu khởi hành.


Sáng ngày 23,
ông Nguyễn Hải Thần còn đến bàn tính cách đi, nhưng đến 6 giờ chiều ông đến khách sạn nói rằng:


-" Ngày mai tôi sẽ đưa cụ ra Quảng Châu rồi sẽ thu xếp cho cụ đi Nam Kinh. Tôi còn phải trở về trù tính việc đánh lấy lại thành Lạng Sơn đã vào tay Việt Minh rồi, sau họ giao lại cho quân Pháp ".



Tôi biết ý ông Nguyễn Hải Thần không muốn đi với tôi, hoặc là trước ông có ý định đi, nhưng sau ông bị bọn người Tàu muốn giữ ông lại để lợi dụng sang cướp phá bên biên giới .







Ðến 11 giờ đêm,
ông lại bảo tôi ông có việc đi gấp, ông không đi Quảng Châu được, để cho Vũ Kim Thành đưa chúng tôi đi.


Sáng ngày 24, chúng tôi lên xe hơi chở hành khách đi đến chiều tối tới Quí Huyện.


Sáng ngày 26
thuê cái xe con đi Nhung Hí, nhưng vì gặp mưa to và đường xấu, phải ngủ ở cái quán dọc đường.


Sáng ngày 27
đến Nhung Hí rồi xuống đò đi đến Ngô Châu. Ðến nơi xuống thẳng tàu thủy đi Quảng Châu.


Ðến 5 giờ chiều tàu mới chạy và đến 10 giờ sáng hôm sau mới tới nơi. Vào khách sạn rồi Vũ Kim Thành đi tìm người quen để tính việc đi Nam Kinh.


Chẳng may lúc ấy những người quen với Vũ Kim Thành đi vắng cả, tàu bay không lấy được, chúng tôi định đi Hương Cảng.


Rồi đến ngày mùng 4 xuống chiếc tàu của người Trung Hoa đi Thượng Hải.


Khi đi trên tàu,
chúng tôi gặp một người hạ sĩ quan Tàu từ Nam Kinh về Quảng Châu rồi trở lên, người ấy vui lòng nhập bọn với chúng tôi để chỉ dẫn đường lối. Nhờ có người bạn ngẫu nhiên gặp đó, chúng tôi đỡ nhiều nỗi khó khăn.


Ngày mùng 7, tàu vào đậu ở cửa sông Hàng Phố. Sáng ngày mùng 8, tàu vào Thượng Hải. Chúng tôi lên bờ, đem đồ hành lý ra gửi ở nhà trạm xe lửa, rồi đi ăn cơm, đến chiều xe lửa đi Nam Kinh.


Sáng ngày mùng 9 đến nơi , nhờ người bạn dọc đường chỉ dẫn cho mới thuê được cái phòng ở khách sạn Ðại Ấn đường Thái Bình Lộ, giá thuê phòng là 7000 bạc quốc tệ Tàu một ngày.


Ngày 11 tôi cùng Vũ Kim Thành đến Hải ngoại bộ hỏi thăm tin tức ông Bảo Ðại. Gặp ông bộ trưởng ấy là Trần Khánh Vân, nói rằng :



" Ông Bảo Ðại không có ở Nam Kinh. Việc ấy phải sang hỏi ông Bí thư trưởng Quốc dâng đảng là ông Ngô Thiết Thành ".


Ngày 12,
chúng tôi đến gặp ông Ngô nói chuyện được ông cho biết ý chính phủ Tàu muốn ông Bảo Ðại đến Nam Kinh . Tôi hỏi :


- " Hiện nay ông Bảo Ðại ở đâu ?“



- " Nghe nói ông ấy đi từ Trùng Khánh đến Hương Cảng. Ông có thể làm bức điện mời ông ấy về đây, để tôi gửi đi ngay thì chóng hơn .“


Tôi bảo Vũ Kim Thành thảo ngay bức điện tín đưa cho người thư ký ở tổng bộ Quốc dân đảng gửi đi. Thế là bao nhiêu sự mong mỏi trong khi đi khó nhọc vất vả dọc đường đến đó là tiêu tan tất cả .ExclamationExclamation Exclamation






Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gởi tin nhắn
Trình bày bài viết theo thời gian:   
Gởi bài mới   Trả lời chủ đề nầy    Diễn Đàn MẪU TÂM -> TIN TỨC VĂN NGHỆ - THỜI SỰ HẢI NGOẠI Thời gian được tính theo giờ Việt Nam PST (U.S./Canada)
Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3, 4, 5  Trang kế
Trang 4 trong tổng số 5 trang

 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gởi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn
|   Register   |   Tin nhắn riêng   |   Đăng Nhập

Powered by -php_BB- Copyright © mautam.net, 2005. All Rights Reserved